Hiển thị các bài đăng có nhãn thuốc nam chữa sỏi thận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuốc nam chữa sỏi thận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

MẬT GẤU







Mật gấu tên thuốc là hùng đởm, vị đắng tính lạnh, xưa là một vị thuốc quí hiếm, nhưng nay được dùng khắp nơi từ bệnh viện cho đến quán rượu, vậy thực chất mật gấu có thể chữa được bệnh gì và không chữa được bệnh gì? bài viết sau đây có thể giúp cho quí vị tự biết khi nào và ai nên dùng và không nên dùng mật gấu
 Người xưa nói” nước chẩy luôn thì không bẩn, chìa khoá dùng luôn thì không gỉ, người ta khí huyết luôn luôn lưu thông thì khoẻ mạnh”.Mật gấu là một vị thuốc đứng đầu trong các thuốc hoạt huyết , vì vậy từ xưa mật gấu đã là một vị thuốc quí để phòng và chữa rất nhiều bệnh tật. Ngày nay y học hiện đại đã có nhiều công trình nghiên cứu về mật gấu chúng ta có thể kể đến một số công dụng đã được kiểm chứng như sau 
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc1. Nhờ tính thanh nhiệt sát trùng mật gấu chữa được các bệnh cấp tính như đau mắt đỏ, viêm kết mạc, viêm khớp cấp, ho cấp tính ...vv
 khi bị đau mắt đỏ mắt xưng đau ngứa cặm, 1cc mật gấu hoà với 50 cc nước, trong uống, bên ngoài nhỏ vài lần là khỏi
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc2. Bảo vệ các tế bào gan , cải thiện dịch huyết từ gan nên chữa rất hiệu quả các bệnh về gan mật như viêm gan, gan nhiễm mỡ, xơ gan, làm tan các kén bệnh trong gan, viêm mật, sỏi mật , loãng mật ...
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc3. Làm tan huyết khối, giảm chelesterol, giảm mỡ trong máu nên phòng chống được tận gốc các bệnh ở hệ tuần hoàn do tắc mạch máu gây ra như cao huyết áp, tai biến mạch máu não , tắc động mạch chi, thiểu năng tuần hoàn não, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim.. nhờ vậy lục phủ ngũ tạng , xương khớp đều được máu đến nuôi dưỡng đầy đủ khiến cho cơ thể luôn luôn khoẻ mạnh, chống béo phì 
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc4.  Tăng cường tiêu hoá chữa được các bệnh đau dạ dầy, viêm đại tràng mãn, kiết lỵ lâu ngày không khỏi 
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc5. Giảm lượng đường trong máu , ổn định bệnh đái đường
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc6. Nhờ tác dụng hoạt huyết nên chữa được các chấn thương, giúp các cơ bị giập nát chóng lành, phụ nữ sau khi đẻ uống mật gấu máu hôi sẽ ra hết, thể lực nhanh chóng hồi phục, các vết rám trên mặt cũng khỏi rất nhanh 
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc7. Các bệnh đau nhức như đau dây thần kinh toạ, đau cơ, đau khớp đông y gọi là tý chứng tức là bế tắc không thông . Mật gấu nhờ tính năng hoạt huyết thông ứ nên chữa các chứng này rất thần hiệu 
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc8. Đau răng ngậm miếng bông tẩm mật gấu pha đặc vài lần là khỏi 
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc9. Gần đây trung quốc dùng mật gấu trị ung thư với liều 11cc một tháng , uống liên tục trong nhiều tháng , khi bệnh đỡ thi uông liều thấp hơn 3-6cc một tháng cho kết quả tốt, ngăn chặn rõ rệt quá trình phát triển của tế bào ung thư, tiêu khối u , tăng cường sức đề kháng của cơ thể, kéo dài tuổi và cá biệt có người khỏi bệnh  
 Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc11. Bệnh trĩ lâu ngày dùng mật gấu hoà nước bôi vào vài lần là khỏi
          
 

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

8 BÀI THUỐC TRỊ CHỨNG LÃNH CẢM Ở PHỤ NỮ




Bài thuốc 1: Thịt Dê trộn ngũ hương

- Nguyên liệu: Thịt dê, gừng, chao, hành, hồi hương, xì dầu, ngũ hương.
- Cách dùng: Thịt dê lọc mỡ, hấp chín thái miếng, trộn với các đồ gia vị như: Tôm, gừng, chao, hành, hồi hương, xì dầu, ngũ hương.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 2: Cháo chim sẻ.

- Nguyên liệu: 3_5 con chim sẻ.
- Cách dùng: Chim sẻ bỏ lông và nội tạng, thái nhỏ, xào chín, nấu cháo gạo tẻ ăn. Cho thêm hành, muối và đồ gia vị. Ăn khi bụng đói.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 3: Tôm tươi hầm đậu phụ.

- Nguyên liệu: 15 con tôm tươi, 3 miếng đậu phụ.
- Cách dùng: Hầm chín cùng với hành củ, gừng, muối.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 4: Tôm xào rau hẹ.

- Nguyên liệu: 50g tôm, 250g rau hẹ
- Cách dùng: Ngâm tôm vào trong nước cho mềm, cho dầu vào chảo, đun nóng, cho tôm và rau hẹ thái khúc vào xào, sau khi chín cho thêm muối, gia vị vừa ăn.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 5: Canh thận dê nấu nhục thung dung.

- Nguyên liệu: 1 quả thận dê lọc bỏ gân, nhục thung dung, câu khởi mỗi loại 15g.
- Cách dùng: Cho các nguyên liệu vào nồi nấu thành canh, cho thêm hành, muối, gừng tươi. Ăn thịt, uống canh.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 6: Câu khởi tử hầm bồ câu non.

- Nguyên liệu: 30g câu khởi tử, 1 con bồ câu non( bỏ lông và nội tạng).
- Cách dùng: Cho nguyên liệu vào hầm cũng với một lượng nước vừa phải, hầm cách thủy đến khi nào chín là được. Ăn thịt, uống canh.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 7: Đậu đen hầm thịt chó.

- Nguyên liệu: 250g thịt chó, 50g đậu đen.
- Cách dùng: 2 nguyên liệu trên hầm cùng với bát giác hồi hương, vỏ quế, trần bì, thảo quả, gừng tươi, muối, bột ngọt. Ăn thịt, uống canh.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Bài thuốc 8: Gà con hấp rượu.

- Nguyên liệu: 1 con gà con. 500ml rượu nếp.
- Cách dùng: Gà bỏ nội tạng, thái miếng, cho thêm dầu và muối ăn vào nồi xào qua, cho vào trong bát to ướp cùng với rượu , hấp cách thủy.
- Công dụng: Điều trị bệnh lãnh cảm ở phụ nữ.

Theo: www.thuocnamviet.com


 TAGThuốc chữa đau Dạ dày  |  Thuốc chữa sỏi thận  |  Thuốc chữa sỏi mật  |  Thuốc chữa sỏi Gan  |  Bài thuốc hay  |  Linh chi rừng cắt lát  |  Cỏ ngọt  |  Khổ sâm cho lá |  Hoa Kim ngân  |  Tầm gửi  |  Chè vằng  |  Bán chi liên  |  Mật nhân khô  |  Lá sen khô  |  Dứa dại  |  Bạch hoa xà thiệt thảo  |  Cà gai leo khô  |  Bột nghệ đen  |  Bột nghệ vàng  |  Cây lạc tiên  |  Diệp hạ châu  |  Kim tiền thảo  |  Dâm dương hoắc  |  Ba kích tím  |  Lá cây xạ đen  |  Cây xạ đen  |  Lá tắm của người Dao đỏ  |  Lá Atiso  |  Hoa Atiso  |  Hà thủ ô  |  Hạt chuối rừng  |  Cây lá gan  |  Bồ công Anh  |  Hoa Tam Thất  |  Cây mật gấu  |  Giảo cổ Lam  |  Nụ hoa Tam thất khô

 

Thứ Năm, 28 tháng 2, 2013

Củi đậu nấu hạt đậu





Đời Tam Quốc (220-264), Tào Thực tự Tử Kiến là con thứ ba của Tào Tháo, vốn có tài làm thơ hay, được tiếng là đệ nhất thi nhân đời Tần Hán nhưng có tính phóng túng. Tào Tháo thương lắm nhưng không thể truyền ngôi cho một chàng giàu tâm hồn nghệ sĩ ấy được.

Tháo chết, truyền ngôi cho con cả là Tào Phi. Thực bản tính ngông nghênh bất phục, có ý chống lại ông vua anh. Phi giận lắm, truyền người bắt Thực đến định làm ti. Nhưng vì yêu tài Thực nên Phi bảo:
- Ta với mầy tuy tình anh em nhưng nghĩa vua tôi, sao dám cậy tài miệt lễ? Ngày tiên quân hãy còn, mầy thường đem văn chương khoe giỏi lòe đời. Ta rất nghi, có lẽ mầy nhờ người khác làm giúp. Vậy giờ đây ta ra hạn: đi bảy bước phải làm xong một bài thơ. Nếu làm được thì tha tội chết; bằng không xong, ta quyết chẳng dung.
Thực nói:
- Xin ra đề cho.
Trên điện sẵn có treo bức tranh thủy mặc, vẽ hai con trâu chém nhau bên bức tường đất. Một con rơi xuống giếng chết. Tào Phi trỏ vào bức tranh, bảo:
- Hãy lấy bức họa kia làm đề. Nhưng trong thơ cấm phạm vào những chữ "Ngưu", "Đẩu", "Tường", "Trụy", "Tỉnh", "Tử" (trâu, chọi, tường, rơi, giếng, chết).

Thực đi khoan thai. Vừa hết bảy bước, liền cất tiếng ngâm:
"Hai tấm thân đi đường,
Trên đầu bốn khúc xương.
Gặp nhau tựa sườn núi,
Bỗng đâu nổi chiến trường.
Đôi bên đua sức mạnh,
Một địch lăn xuống hang.
Đâu phải thua kém sức,
Chẳng qua sự lỡ làng".

Nguyên Văn:
"Lưỡng nhục tề đạo hành,
Đầu thượng đới ao cốt.
Tương ngô do sơn hạ,
Huất khởi tương đường đột.
Nhị định bất câu cương,
Nhất nhục ngọa thổ quật.
Phi thị lực bất hư,
Thịnh khí bất tiết tất".

Tào Phi cùng tất cả quần thần đều giật mình, nức nở khen. Phi lại hỏi:
- Bảy bước thành thơ, ta còn cho là chậm. Mầy có thể ứng khẩu đọc ngay một bài được chăng?
Thực đáp:
- Xin ra đề cho.
Phi nói:
- Ta với mầy là anh em. Cứ lấy câu đó làm đầu đề. Nhưng cũng cấm dùng hai chữ "Huynh", "Đệ".
Thực chẳng cần nghĩ ngợi một giây, ứng khẩu đọc ngay:
"Củi đậu đun hột đậu
Đậu trong nồi khóc kêu:
Cùng sinh trong một gốc,
Bức nhau chi đến điều".

Nguyên Văn:
"Chữ đậu nhiên đậu cơ,
Đậu tại phẩu trung khấp.
Bản thị đồng căn sinh,
Tương tiễn hà thái cấp".

Phi nghe cảm động, sa nước mắt, liền tha cho, nhưng giáng Tào Thực làm An Hương Hầu.

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Trị sỏi mật và viêm đường mật bằng Đông y

Các bài thuốc y học cổ truyền có hiệu quả rõ rệt nhất với các trường hợp viêm túi mật và sỏi mật thông thường (khí trệ) hoặc có vàng da, sốt (thấp nhiệt). Đông y cũng có tác dụng ngăn ngừa tái phát sau khi phẫu thuật lấy sỏi.

Sỏi mật, viêm đường dẫn mật là bệnh mạn tính, hay tái phát với các triệu chứng chủ yếu là: đau vùng hạ sườn phải, sốt, vàng da. Trên lâm sàng, bệnh được chia làm 4 thể:
- Thể khí trệ hay khí uất tương ứng với chứng viêm túi mật và sỏi mật đơn thuần.
- Thể thấp nhiệt tương ứng với chứng viêm và sỏi mật có sốt cao, vàng da nhiều.
- Thể thực hỏa tương ứng với chứng viêm túi mật hóa mủ, nhiễm trùng, nhiễm độc.
- Thể chính hư tà hãm tương ứng với chứng nhiễm độc do viêm phúc mạc tràn mật.

Phương pháp điều trị viêm đường mật và sỏi mật bằng Đông y khá phong phú; nhưng chúng hầu như và chỉ thích hợp với thể khí trệ và thấp nhiệt. Ngoài ra, sau khi phẫu thuật điều trị sỏi đường mật, có thể dùng thuốc Đông y để phòng bệnh tái phát.
Thể khí trệ
Triệu chứng: Vùng hạ sườn phải đau tức âm ỉ hay đau nhiều, có lúc không đau, miệng đắng, họng khô, không muốn ăn uống, không sốt cao, có hoặc không có vàng da, mạch nhanh trên 90 lần/phút.
Bài thuốc: Kim tiền thảo, nhân trần mỗi thứ 40 g, uất kim, chỉ xác mỗi thứ 8 g, sài hồ, xa tiền tử mỗi thứ 16 g, khổ luyện tử 6 g, chi tử 12 g, đại hoàng 4 g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc đun thay nước uống hằng ngày lâu dài. Nếu đại tiện phân lỏng, có thể giảm hoặc bỏ hẳn vị đại hoàng.

Thể thấp nhiệt
Triệu chứng: Vùng hạ sườn phải đau tức, miệng đắng họng khô, lợm giọng, buồn nôn, sốt sợ lạnh hay lúc sốt lúc rét, niêm mạc mắt vàng, da vàng, nước tiểu đỏ hay vàng, táo bón, lưỡi bẩn, rêu lưỡi vàng dày.
Bài thuốc: Long đởm thảo, hoàng cầm, sơn chi tử mỗi thứ 12 g; sài hồ 16 g, cam thảo, đại hoàng mỗi thứ 4 g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng trong giai đoạn bệnh cấp, có sốt 5 đến 10 thang. Giai đoạn ổn định có thể quay lại dùng bài trên.
Cách gia giảm như sau: Nếu cảm giác bụng đầy, thêm mộc hương, hương phụ; uất kim mỗi thứ 8 g; sốt và vàng da nhiều, thêm hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ 12 g; bồ công anh 40 g; nếu đau nhiều thêm diên hồ sách 12 g và mộc hương 4 g; nếu nôn mửa, lợm giọng, thêm trần bì, bán hạ mỗi thứ 8 g; táo bón thêm mang tiêu 20 g.
Lưu ý: Không dùng phương pháp y học cổ truyền đơn thuần trong các trường hợp có nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Người bệnh cần được thầy thuốc theo dõi để kịp thời can thiệp bằng y học hiện đại như: phẫu thuật, chống nhiễm trùng, nhiễm độc...
TS Lê Lương Đống

-----------------------------------------------oOo---------------------------------------------theo www.thuocnamviet.com