Hiển thị các bài đăng có nhãn sỏi gan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sỏi gan. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012
Kim tiền thảo chữa sỏi mật
Vị thuốc Kim tiền thảo còn gọi Bạch Nhĩ Thảo, Bản Trì Liên, Biến Địa Hương, Biến Địa Kim Tiền, Cửu Lý Hương, Nhũ Hương Đằng, Phật Nhĩ Thảo, Thiên Niên Lãnh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Đại Kim Tiền Thảo, Giang Tô Kim Tiền Thảo, Quá Lộ Hoàng, Quảng Kim Tiền Thảo, Tứ Xuyên Đại Kim Tiền Thảo (Trung Dược Học), Đồng Tiền Lông, Mắt Rồng, Mắt Trâu, Vảy Rồng ( Việt Nam). Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốc
Tác Dụng:
+ Thanh nhiệt, lợi thủy, tiêu sạn, giải độc, tiêu viêm (Trung Dược Học).
+ Lợi thủy, thông lâm, tiêu tích tụ (Đông Dược Học Thiết Yếu). Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcChủ Trị:
+ Trị các chứng nhiệt lâm, thạch lâm, sỏi mật, hoàng đản, ung nhọt do nhiệt độc (Trung Dược Học).
+ Trị gan mật kết sỏi, sỏi Thận, tiểu buốt, hoàng đản (Đông Dược Học Thiết Yếu). Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcLiều Dùng: 20-40g. Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcKiêng Kỵ:
+ Tỳ hư, tiêu chảy: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Đơn Thuốc Kinh Nghiệm:
+ Trị mụn nhọt, ghẻ lở: Kim tiền thảo + Xa tiền thảo tươi, giã nát, cho rượu vào, vắt lấy nước cốt, lấy lông ngỗng chấm thuốc bôi vào vết thương (Bạch Hổ Đơn - Chúc Thị Hiệu Phương).
+ Trị sạn mật: Chỉ xác (sao) 10-15g, Xuyên luyện tử 10g, Hoàng tinh 10g, Kim tiền thảo 30g, Sinh địa 6-10g (cho vào sau). Sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị sạn mật: Kim tiền thảo 30g, Xuyên phá thạch 15g, Trần bì 30g, Uất kim 12g, Xuyên quân (cho vào sau) 10g. Sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị sạn mật: Bệnh viện ngoại khoa thuộc Viện nghiên cứu Trung Y Trung Quốc báo cáo 4 cas sạn mật được trị bằng Kim tiền thảo có kết quả tốt (Trung Y Tạp Chí 1958, 11:749).
+ Trị sạn đường tiểu: Kim tiền thảo 30-60g, Hải kim sa (gói vào túi vải) 15g, Đông quỳ tử 15g, Xuyên phá thạch 15g, Hoài ngưu tất 12g, Hoạt thạch 15g, sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị sỏi đường tiểu: Kim tiền thảo 30g, Xa tiền tử (bọc vào túi vải) 15g, Xuyên sơn giáp (chích) 10g, Thanh bì 10g, Đào nhân 10g, Ô dược 19g, Xuyên ngưu tất 12g. Sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị sỏi đường tiểu do thận hư thấp nhiệt: Hoàng kỳ 30g, Hoàng tinh 15g, Hoài ngưu tất 15g, Kim tiền thảo 20g, Hải kim sa (gói vào túi vải), Xuyên phá thạch 15g, Vương bất lưu hành 15g. Sắc uống (Trung Dược Học).
+ Trị trĩ: mỗi ngày dùng toàn cây Kim tiền thảo tươi 100g (nếu khô 50g) sắc uống. Nghiêm Tư Khôn đã theo dõi trên 30 cas sau khi uống 1-3 thang thuốc, thấy hết sưng và đau. Đối với trĩ nội và ngoại đều có kết quả như nhau (Tạp chí: Bệnh Hậu Môn Đường Ruột Trung Quốc 1986, 2:48).
+ Trị đường mật viêm không do vi khuẩn: Tác giả Lý Gia Trân theo dõi 52 cas bệnh đường mật viêm không do vi khuẩn, có sốt nhẹ và triệu chứng điển hình, dùng Kim tiền thảo sắc uống sáng 1 lần hoặc nhiều lần trong ngày. Mỗi ngày dùng 30g, có khi 20g hoặc 10g/ ngày. 30 ngày là 1 liệu trình. Thông thường uống trong 2-3 tháng có kết quả với tỉ lệ 76,9% (Trung Y Bắc Kinh Tạp Chí 1985, 1:26).
Tìm hiểu thêm
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcTên Khoa Học: Herba Jinqiancao, Desmodium styracifolium (Osbeck) Merr.
Họ Cánh Bướm (Fabaceae).
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcMô Tả: Cây thảo, sống lâu năm, bò sát đất, dài khoảng 1m. Lá mọc so le, gồm 3 lá chét hình tròn, có lông &1 vàng. Hoa tự hình chùm. Tràng hoa hình bướm, màu tía. Quả loại đậu, dài 14-16mmm, chứa 4-5 hạt.Mọc hoang trên vùng đồi trung du, vùng núi.
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcThu Hái, Sơ Chế: Thu hái vào mùa hè, lúc cay có nhiều lá và hoa. Phơi khô.
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcBộ Phận Dùng: Toàn cây.
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcBào Chế: Rửa sạch phơi khô, để dùng.
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcBảo Quản: Để chỗ kín, tránh ẩm mốc.
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcThành Phần Hóa Học:
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcTrong Kim tiền thảo có:
· Loại Herba Glechomae Longitubae: L-Pinocamphone, L-Menthone, L-Pulegone, a-Pinene, Limonene, p-Cymene, Isopinocamphone, Isomenthone, Linalôl, Menthol, a-Terpinol, Ursolic acid, b- Sitosterol, Palmitic, acid, Amino acid, Tannins, Choline, Succinic acid, Potassium nitrate.
· Loại Herba Desmodii Styracifolii: Ancloid, Tannin, Flavones, Phenols.
· Loại Lysimachiae Christinae: Phenols, Sterols, Flavones, Tannín, Essential oils (Trung Dược Học).
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcTác Dụng Dược Lý:
+ Tác Dụng Lên Tim Mạch: nước sắc Kim tiền thảo của Quảng Đông, chích vào chó bị gây mê thấy tuần hoàn mạch vành tăng, hạ áp lực động mạch, làm chậm nhịp tim, giảm lượng oxy ở tim. Tuần hoàn của Thận và não cũng tăng. Thí nghiệm trên heo, thấy cơ tim co lại.
+ Tác Dụng Trên Mật: Thí nghiệm trên chó bị gây mê thấy thuốc có tác dụng tăng nhanh bài tiết mật nhờ vậy có tác dụng tống sạn mật, làm giảm đau ở ống mật, hết vàng da.
+ Tác Dụng Đối Với Hệ Bài Tiết: nước sắc Kim tiền thảo có tác dụng lợi tiểu đối với chuột và thỏ, có thể do chất Potasium chứa trong thuốc.
+ Tác Dụng Đối Với Sỏi, Sạn: nước sắc Kim tiền thảo liều cao ( trên 80g), thường được dùng trị sạn ở mật hoặc đường tiểu.
+ Đối Với Bệnh Nhiễm Khuẩn: nước sắc Kim tiền thảo trị 10 cas ho gà, có 7 cas khỏi, 2 cas có tiến triển. Loại Lysimachia (Quá Lộ Hoàng) đối với tụ cầu vàng, loại Glechoma ( Hoạt Huyết Đơn) đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, lỵ, trực khuẩn mủ xanh đều có tác dụng ức chế.
+ Điều trị bệnh ở ngực: Dùng nước cốt Kim tiền thảo tươi trị 13 cas tuyến vú viêm, có kết quả rất tốt. Tất cả khỏi trong vòng 6 ngày. Có 8 cas khỏi trong 3 ngày hoặc ngắn hơn. 2 trong số những cas này không thích ứng với trụ sinh.
+Trị quai bị: Đắp Kim tiền thảo vào chỗ sưng đau để trị 50 cas tuyến mang tai viêm (quai bị), thời gian giảm sưng là 12 giờ.
+Trị Phỏng: Đắp Kim tiền thảo trị 30 cas bị phỏng độ 2 và 3 có kết quả tốt tất cả.
(Trung Dược Học).
+ Quảng Kim tiền thảo có tác dụng làm tăng lưu lượng máu ở thận, động mạch vành, tuần hoàn não và động mạch đùi cũng tăng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Thuốc có tác dụng tăng nhanh bài tiết mật, nhờ vậy thuốc có tác dụng tống sạn mật, làm giảm đau do mật co thắt, hết vàng da (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
+ Loại Lysimachia có tác dụng ức chế đối với tụ cầu vàng. Loại Glechoma có tác dụng ức chế đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn, lỵ trực khuẩn mủ xanh (Chinese Herbal Medicine).
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcĐộc Tính:
Kim tiền thảo không độc. Cho dùng liều 20g/kg liên tục trong tuần đối với súc vật thí nghiệm không thấy có tác dụng phụ (Trung Dược Học).
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcTính Vị:
+Vị ngọt, tính hàn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+Theo Trung Dược Học:
.Loại của Giang Tô: vị đắng, cay, tính mát.
.Loại của Quảng Đông: Vị ngọt, nhạt, tính bình.
.Loại của Tứ Xuyên: vị hơi mặn, tính bình.
+Vị ngọt, đắng, tính hơi hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcQuy Kinh:
+Vào kinh Phế, Can, Bàng quang (Trung Dược Học).
+Vào kinh Can, Bàng quang (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Kim tiền thảo, kim tien thao, cây mắt nai - vị thuốcTham Khảo:
. “Trị chứng nga chưởng phong dùng Kim tiền thảo xát vào là khỏi. Dùng nước cốt Kim tiền thảo ngậm, súc miệng rồi nhổ đi trị răng đau rất hay. Vì Kim tiền thảo khứ phong, tán độc do đó, nấu nước Kim tiền thảo mà tắm rửa trị ghẻ lở rấùt thần hiệu...” (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
. “Có thể dùng độc vị Kim tiền thảo sắc uống thay nước trà để tống sỏi ra” (Trung Dược Học).
. “Kim tiền thảo có nhiều chủng loại, chia làm 5 loại họ thực vật khác nhau:
1) Đại Kim tiền thảo Tứ Xuyên , thuộc họ Anh thảo, trị bệnh sỏi ở gan mật đạt hiệu quả tốt.
2) Tiểu Kim tiền thảo Tứ Xuyên, thuộc họ Toàn hoa, có thể dùng trị lỵ, bệnh mắt, ghẻ lở.
3) Kim tiền thảo Quảng Đông, thuộc họ Đậu, thường dùng trị bệnh sỏi ở gan mật và Thận.
4) Kim tiền thảo Giang Tây, thuộc họ Hoa tán, thường dùng trị bệnh Thận viêm, sỏi Thận.
5) Kim tiền thảo Giang Tô, thuộc họ Hoa Môi, những năm gần đây phát hiện thấy có thể trị sỏi bàng quang” (Đông Dược Học Thiết Yếu).
-----------------------------------------------oOo---------------------------------------------theo www.thuocnamviet.com
Trị sỏi mật và viêm đường mật bằng Đông y
Các bài thuốc y học cổ truyền có hiệu quả rõ rệt nhất với các trường hợp viêm túi mật và sỏi mật thông thường (khí trệ) hoặc có vàng da, sốt (thấp nhiệt). Đông y cũng có tác dụng ngăn ngừa tái phát sau khi phẫu thuật lấy sỏi.
Sỏi mật, viêm đường
dẫn mật là bệnh mạn tính, hay tái phát với các triệu chứng chủ yếu là:
đau vùng hạ sườn phải, sốt, vàng da. Trên lâm sàng, bệnh được chia làm 4
thể:
- Thể khí trệ hay khí uất tương ứng với chứng viêm túi mật và sỏi mật đơn thuần.
- Thể thấp nhiệt tương ứng với chứng viêm và sỏi mật có sốt cao, vàng da nhiều.
- Thể thực hỏa tương ứng với chứng viêm túi mật hóa mủ, nhiễm trùng, nhiễm độc.
- Thể chính hư tà hãm tương ứng với chứng nhiễm độc do viêm phúc mạc tràn mật.
Phương pháp điều trị viêm đường mật và sỏi mật bằng Đông y khá phong phú; nhưng chúng hầu như và chỉ thích hợp với thể khí trệ và thấp nhiệt. Ngoài ra, sau khi phẫu thuật điều trị sỏi đường mật, có thể dùng thuốc Đông y để phòng bệnh tái phát.
Phương pháp điều trị viêm đường mật và sỏi mật bằng Đông y khá phong phú; nhưng chúng hầu như và chỉ thích hợp với thể khí trệ và thấp nhiệt. Ngoài ra, sau khi phẫu thuật điều trị sỏi đường mật, có thể dùng thuốc Đông y để phòng bệnh tái phát.
Thể khí trệ
Triệu chứng:
Vùng hạ sườn phải đau tức âm ỉ hay đau nhiều, có lúc không đau, miệng
đắng, họng khô, không muốn ăn uống, không sốt cao, có hoặc không có vàng
da, mạch nhanh trên 90 lần/phút.
Bài thuốc:
Kim tiền thảo, nhân trần mỗi thứ 40 g, uất kim, chỉ xác mỗi thứ 8 g,
sài hồ, xa tiền tử mỗi thứ 16 g, khổ luyện tử 6 g, chi tử 12 g, đại
hoàng 4 g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc đun thay nước uống hằng ngày lâu
dài. Nếu đại tiện phân lỏng, có thể giảm hoặc bỏ hẳn vị đại hoàng.
Thể thấp nhiệt
Thể thấp nhiệt
Triệu chứng:
Vùng hạ sườn phải đau tức, miệng đắng họng khô, lợm giọng, buồn nôn,
sốt sợ lạnh hay lúc sốt lúc rét, niêm mạc mắt vàng, da vàng, nước tiểu
đỏ hay vàng, táo bón, lưỡi bẩn, rêu lưỡi vàng dày.
Bài thuốc:
Long đởm thảo, hoàng cầm, sơn chi tử mỗi thứ 12 g; sài hồ 16 g, cam
thảo, đại hoàng mỗi thứ 4 g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng trong giai đoạn
bệnh cấp, có sốt 5 đến 10 thang. Giai đoạn ổn định có thể quay lại dùng
bài trên.
Cách gia giảm như sau: Nếu
cảm giác bụng đầy, thêm mộc hương, hương phụ; uất kim mỗi thứ 8 g; sốt
và vàng da nhiều, thêm hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ 12 g; bồ công anh 40
g; nếu đau nhiều thêm diên hồ sách 12 g và mộc hương 4 g; nếu nôn mửa,
lợm giọng, thêm trần bì, bán hạ mỗi thứ 8 g; táo bón thêm mang tiêu 20
g.
Lưu ý:
Không dùng phương pháp y học cổ truyền đơn thuần trong các trường hợp
có nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Người bệnh cần được thầy thuốc theo dõi
để kịp thời can thiệp bằng y học hiện đại như: phẫu thuật, chống nhiễm
trùng, nhiễm độc...
TS Lê Lương Đống
-----------------------------------------------oOo---------------------------------------------theo www.thuocnamviet.com
Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012
CHƯƠNG TRÌNH SAN SẺ TÌNH THƯƠNG_ÁO ẤM CHO EM
NHỮNG
ÔNG BỤT CÔ TIÊN
Trước hết thay mặt tất
cả những người đã một thời là học sinh xin gửi tới tất cả các nhà giáo Việt Nam lời
chúc mừng trân trọng nhất nhân ngày 20 tháng 11.
Trong những ngày này
chúng tôi những người Khởi xướng chương trình : SAN SẺ TÌNH THƯƠNG - ÁO ẤM CHO EM đã
lên đường tới bản Hon xã Xuân an huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ để thực hiện nội
dung đã đề ra.
Không thể dùng lời lẽ
nào hơn để mô tả sự kiện trên bằng hai bài thơ của thầy cô giáo và cha mẹ học
sinh trường tiểu học xã Xuân An cùng những ảnh phóng sự sau đây:
Mời các bạn cùng cảm nhận và sẻ chia.
CÓ ÔNG BỤT
GIỮA ĐỜI THƯỜNG
Đặng Thị Thu Hương -
- cô giáo Bản Hon
Đêm khuya mẹ kể con nghe:
Có Ông Bụt giữa bốn bề nước mây.
Bụt thương cô Tấm thơ ngây.
Bụt thương con trẻ những ngày chớm
đông.
À ơi: bên bếp lửa Hồng,
Chênh chao liếp nứa, bềnh bồng à
ơi!
Sáng nay Bụt hiện giữa đời.
Bụt mang áo ấm lên nơi gió ngàn.
Trẻ em ríu
rít từng đàn,
Cảm ơn ông Bụt
đã mang áo về.
Sẻ CHIA giá buốt tái tê,
NHÂN
tình thương giữa bộn bề áo cơm,
CỘNG
lòng nhân ái thảo thơm,
TRỪ
đường cách trở ươm mầm tương lai.
Bản Hon một
buổi sớm mai
Hào quang nắng
tỏa dặm dài yêu thương:
“Có ông Bụt giữa đời thường !”
CHƯƠNG TRÌNH: ÁO ẤM CHO EM
Đinh Tiến Nho
Hội cha mẹ học sinh bản Hon
Mùa đông với
bản vùng cao
Sương xa
ngang mặt lùa vào thấu xương,
Mong manh áo vải đến trường,
Vượt đèo, lội suối, băng rừng em
qua.
Tái tê giá rét đường xa,
Gió lạnh như cắt thịt da mỗi ngày.
Chương trình áo ấm trao tay
Dù cho gió thổi, tuyết bay lạnh
lùng.
Bản nghèo đầy những khó khăn
Cái ăn, cái mặc, học hành sớm hôm.
Hội Bờ - lốc đã quan tâm
Đến từng cháu nhỏ bản Hon đợi chờ.
Cho em chắp
cánh tuổi thơ
Mầm non trong sáng từng giờ vươn
xa.
Rừng xanh, biển cả bao la
Tấm lòng sâu nặng mặn mà sắt son.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Nghĩa tình san sẻ vẫn còn đậm ghi.
Mùa đông Nhâm thìn -
2012
CHƯƠNG TRÌNH
SAN
SẺ TÌNH THƯƠNG ÁO ẤM CHO EM
XIN
CHÂN THÀNH CẢM ƠN VÀ GHI NHẬN
CÁC “ÔNG BỤT CÔ TIÊN” SAU ĐÂY
Ngô Thái, Ngô Toàn Thắng, Ngô Đức Tâm, Ngô Chí
Thành, Lê Khắc Thanh, Hoàng Hồng Quân, Nguyễn thị Thanh Nga, Ma đình Tú, Phàn Thị
thu Hương, Vũ Ngọc Vân Anh, Phương Vi, Nguyễn Hữu Cầu, Hoa Muống Biển, Lê Ngọc
Kỳ, Hồng Liên, Ngọc Huyền, Phạm Như Hào, Nguyễn Trần(Hạnh Nguyên), Bạch Dương,
Đức Nguyễn, Bình Nguyên, Bầm Cao Thị Nguyên, Ngô Minh Tuấn, Đỗ Hưng, VS196,
Đoàn Thị Kim Thư, Phạm Minh Trang, Trần Huyền Nhung, Vũ Thị Nam, Bùi Hồng Tuấn,
TC G760000, Đinh Duy Đang, Huỳnh Hà Trà My -
(N
habaokhongthe), Ngô Phương Thanh (Cuocsonmien),
Trần Xuân Tuyển, Nguyễn Sỹ Tân, Nguyễn Anh Hùng, Nguyễn Đình Hải, Nguyễn Văn Quảng,
Chu Lệ Dung, Nguyễn Văn Trường, Vương Thị Thu...
(Có
thể danh sách trên đây chưa đầy đủ mong các bạn xem và bổ xung cho chúng tôi).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)