Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

BÀI THUỐC CHỮA THOÁI HÓA XƯƠNG KHỚP.



Thoái hóa đốt sống cổ, bệnh thoát vị đĩa đệm, gai cột sống, đau thần kinh tọa là những tên gọi khác nhau của bệnh thoái hóa cột sống. Rất nhiều bệnh nhân thấy hoảng sợ vì không biết tại sao bản thân lại mắc nhiều bệnh đến thế, không phân biệt nổi sự khác nhau giữa các tên gọi của căn bệnh này...




Biểu hiện và bài thuốc, theo đông y là tùy từng thể bệnh, nguyên do. Nếu do phong hàn thì đầu, gáy, vai và lưng đau, gáy cứng, có nhiều điểm đau ở cổ, có cảm giác như nhịp đập ở cổ, cử động khó khăn, tay chân tê, đau, mỏi, chi trên có cảm giác nặng, không có sức, thích ấm, sợ lạnh. Điều trị trong trường này có thể dùng bài gồm các vị: tam thất |3 gr, cam thảo 6 gr, cát căn 15 gr, quế chi, bạch thược, đương quy, xuyên khung, thương truật, mộc qua (mỗi vị đều 9 gr), sinh khương 3 lát, táo 3 trái.

Phục linh, Táo, Xích thược, Ngưu tất

Với thể can thận âm hư, triệu chứng biểu hiện là gáy, vai, lưng đau, có khi đau lan lên đầu, tay chân tê, mất cảm giác, thắt lưng đau, đầu gối mỏi, chóng mặt, hoa mắt, gò má hay đỏ, ra mồ hôi trộm, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng. Chữa trị trong trường hợp này có thể dùng bài gồm các vị: ngưu tất, thục địa, đan sâm (mỗi vị đều 12 gr), đương quy, bạch thược, tỏa dương, tri mẫu, hoàng bá, quy bản, thỏ ty tử, kê huyết đằng (mỗi loại đều 9 gr).
Với thể đờm thấp ngăn trở kinh mạch thì biểu hiện là, đầu, gáy, vai, vai lưng đau; váng đầu, chóng mặt, đầu nặng, cơ thể nặng, không có sức, nôn ói, ngực và hông sườn đầy tức, lưỡi trắng nhạt. Điều trị với thể này dùng bài gồm các vị: tam thất 3 gr, đởm nam tinh, bán hạ, bạch giới tử, ngũ vị tử (mỗi loại đều 10 gr), cát cánh 6 gr, phục linh, trần bì, địa long (mỗi loại đều 12 gr).
Với thể khí huyết đều hư, huyết ứ - triệu chứng thường gặp là, đầu, gáy khó cử động, gáy yếu, tay chân yếu, nhất là ở các đầu ngón tay, vai và tay tê, mệt mỏi, mất ngủ, hay mơ, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, chóng mặt, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, da mặt xanh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng. Chữa trị trong trường hợp này có thể dùng bài gồm các vị: hoàng kỳ 18 gr, kê huyết đằng 15 gr, xích thược, bạch thược (mỗi loại đều 12 gr), quế chi, cát căn (mỗi loại đều 9 gr), sinh khương 6 gr, táo 4 trái.
Cách sắc (nấu) các bài thuốc như sau: cho các vị thuốc vào nồi đất cùng 4 bát nước, nấu còn lại 1 bát, cho nước ra, tiếp tục cho 3 bát nước vào, nấu còn lại nửa bát. Hòa lại nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày, dùng lúc còn âm ấm.
theo: Y Học Cổ Truyền.   

THUỐC NAM GIA TRUYỀN DÂN TỘC TÀY

Chuyên đặc trị:
_ Thoái hóa xương khớp, đau vai gáy, đau dây thần kinh, vôi gai đốt sống, bệnh gút, thoát vị đĩa đệm.

_Tiểu đường, huyết áp

_Xơ gan cổ trướng, viêm gan, gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

_Viêm xoang.

_Trĩ nội, trĩ ngoại.

_Yếu sinh lý, vô sinh.

_ Sỏi thận, sỏi gan, sỏi mật, sỏi bang quang, tiết niệu.

Địa chỉ: sn 102, ngõ 683, đường Nguyễn Khoái, P. Thanh Trì, Q. Hoàng Mai. Hà Nội.
SĐT: 0986 796 990 - 0168 465 2222   

         


Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

SỐNG THẬT VỚI CHÍNH MÌNH




SỐNG THẬT VỚI CHÍNH MÌNH

Tác giả: Young Moon (Giảng viên tâm lý)

Có một tác giả đã nói rằng: "... Cuộc sống là một quá trình cho và nhận. Nếu bạn càng cố gắng giữ lại một... cái gì đó bạn sẽ chẳng được gì. Nếu bạn cho đi bạn sẽ được rất nhiều từ xung quanh và từ chính bạn..."
Trong cuộc sống không thể thiếu tình bạn. Trong tình bạn không thề thiếu sự chân thành. Nếu đã có một lúc nào đó trong lòng bạn có cảm giác là bạn bè không thành thật với mình, thì lúc đó bạn là một người ích kỷ vì bạn chưa thật sự chân thành trong tình bạn. Trong tình bạn chân chính thì không tồn tại sự nghi ngờ. Nếu bạn muốn có một tình bạn chân chính, thì bạn phải tỏ ra trung thực và chân thành trong tình bạn.
"...Trong cuộc sống, mọi sự vật luôn vận động và biến đổi. Mọi thứ đều có thể thay đổi. Vì vậy, nếu bạn cố gắng sống cho thật tốt ngày hôm nay, thì ngày mai là hình ảnh của hy vọng... và ngày hôm qua... chỉ là một giấc mộng êm đềm. Hãy sống cho thật đẹp trong ngày hôm nay, đặc biệt là ngay tại lúc này..."
Nếu vì làm đẹp lòng nhau đã khiến cho người ta ngày một cách xa hơn với sự thật. Những màn trình diễn luôn được xảy ra trong những mối quan hệ sơ giao, những lần gặp gỡ vội, khiến cho đối tượng tiếp xúc luôn có một ấn tượng tốt về mình.
Nhưng điều đó sẽ trở thành thứ văn hóa che đậy nếu trong ta chỉ nhắm tới mỗi mục đích để người kia đánh giá cao hay có thêm thiện cảm với ta thôi. Cái quyền lợi ích kỷ được che đậy bởi cái hình thức tử tế mà đôi khi chính ta cũng tưởng lầm mình đang vì kẻ khác.
Văn hóa là lối sống làm cho con người tốt hơn và đẹp hơn. Nhưng cái tốt và cái đẹp nếu không đi chung với cái chân thật, như bộ ba không thể tách rời chân-thiện-mỹ, thì cái đó chỉ làm một thứ trang sức hời hợt. Nghệ thuật “đắc nhân tâm” có thể tạo nên hương vị mặn nồng và trôi chảy giữa các mối quan hệ gần xa trong xã hội, nhưng nếu không cẩn trọng thì nó chính là cái bẫy sập để cho ta tự đánh mất chính mình .
Thói thường cuộc đời người ta rất dễ bị thu hút bởi những lời nói ngọt lịm, trau chuốt và đầy lễ độ. Cho nên để được thang điểm cao trong mắt người khác, ta đã không ngần ngại và có khi phải cố gắng để nặn ra những điều cho thật phù hợp với suy nghĩ hay sở thích của đối phương, trong khi lòng ta trống rỗng, vô vị hay hoàn toàn tương phản.
Bây giờ người ta còn chế ra “lời nói có cánh” để tặng nhau như một món quà thượng hạng. Đúng là ta sẽ sung sướng và ấn tượng sau cái lần gặp gỡ được người kia ban tặng cho những lời mà chỉ có trong mơ hay cõi thần tiên mới có. Người trao không chủ động được lý trí để chịu hết trách nhiệm cho lời nói tựa gió bay, người nhận cũng bị lây nhiễm cảm xúc đó nên cũng không còn định thần để phân biệt lời nói ấy thật lòng hay đưa đẩy cho vui.
Thực chất của cái ấn tượng tốt mà người ta thường muốn để lại trong các mối quan hệ chính là sự trao đổi cảm xúc, người kia cho ta một cảm xúc tốt nên ta cũng cho lại một cảm xúc tốt. Nhưng nếu một quan hệ mà chỉ trao nhau những cảm xúc tốt thôi thì nó chỉ quý mến hay thương yêu. Có khi đã là vợ chồng nhiều năm mà bên kia vẫn chưa hiểu được bộ mặt thật của mình như thế nào nữa, vì mình rất có tài che đậy.
Nhưng rồi ngày mai khi mặt trời mọc thì người kia cũng phát hiện ra, vì đâu phải lúc nào ta cũng đủ sức để ngụy trang mãi được. Không phải vì hoàn cảnh trái nghịch, mà chính ta đã không còn đủ năng lượng để tiếp tục diễn xuất. Ta đã mệt mỏi và cần sống thật với chính con người mình. Điều tồi tệ luôn xảy ra sau những lần thoát vai là không những người kia bị sụp đổ mà chính ta cũng không tìm thấy được con người thật của mình nữa.
Ta hãy ý thức lại đời sống của mình trong thời gian qua và kiểm tra lại mình vẫn còn là chính mình hay đang miệt mài trên con đường tha hóa. Ta vẫn còn kịp. Mỗi ngày hãy tự soi mình trong gương thật lâu để ta còn cơ hội nhìn lại con người hiện tại của mình. Sau lớp phấn son ấy, sau bộ đồ chỉnh chu ấy, sau bộ mặt nghiêm nghị thần thái ấy, ta la ai? Hãy hỏi như vậy nhiều lần và tìm cho ra câu trả lời từ sâu thẳm trái tim. Và hãy nở nụ cười thật tươi nếu ta vẫn còn tiếp xúc được chính mình.
Nếu bạn đang yêu một người, nhưng bạn không dám nói ra vì sợ sẽ hối hận vì sự thay đổi của ngày mai. Như vậy là bạn đã tự dối lòng mình. Bạn sẽ phải đối mặt với sự đau khổ khi bạn cố gắng kiềm nén tình cảm của mình. Nếu bạn càng cố kiềm nén,tình yêu trong bạn sẽ ngày càng lớn dần. Và tới một lúc nào đó, con tim bạn sẽ chiến thắng lý trí của bạn... nó thúc giục bạn... dẫn bạn đến với tình yêu... nhưng lúc đó bạn có thể sẽ thêm đau khổ vì... đã muộn màng.
"... Không thể có một tình yêu vĩnh cửu, mà chỉ có những phút giây vĩnh cửu của tình yêu..."
Vì thế, bạn đừng nên tự lừa dối chính mình, hãy làm theo những gì con tim mách bảo. Dù mai này có xảy ra bất cứ chuyện gj, tới lúc đó, bạn cũng tự hào rằng mình đã từng có một tình yêu thật sự, và mỗi giây phút trong tình yêu của bạn sẽ là những phút giây vĩnh cửu. Và bạn sẽ không hối tiếc vì bạn không lừa dối bản thân. Bạn vẫn là... chính bạn

Người đời ham kiếm chữ vinh
Mà quên đi mất chữ Tình trong Tâm."




Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

THUỐC ĐÔNG Y CHỮA BỆNH TRĨ




Bệnh trĩ phát sinh do tình trạng phồng giãn và sung huyết đám rối tĩnh mạch hậu môn trực tràng, hình thành một hay nhiều búi trĩ; tùy theo vị trí giải phẫu và mức độ sung huyết của đám rối tĩnh mạch trĩ trong hoặc trĩ ngoài mà phân thành trĩ nội, trĩ ngoại. Bệnh hay gặp ở cả nam và nữ, lứa tuổi chủ yếu là trung niên và người cao tuổi. Ở Việt Nam bệnh trĩ có tỷ lệ mắc bệnh khá cao từ 30-35% dân số, đứng hàng thứ 3 trong cơ cấu bệnh hậu môn trực tràng.



 Hoa đẳng sâm.
Có nhiều nguyên nhân và những yếu tố thuận lợi sinh ra bệnh, được tập trung vào 4 nhóm chính:
- Nhóm bệnh lý đường tiêu hóa: Hội chứng lỵ, viêm đại tràng mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, táo bón... khiến cho người bệnh đi ngoài phải rặn nhiều, thời gian đại tiện lâu tạo điều kiện phát sinh bệnh trĩ.

- Sự suy yếu tổ chức nâng đỡ tại chỗ: Do lớp cơ ở dưới niêm mạc hậu môn trực tràng, hệ thống co thắt, dây chằng, cơ nâng bị suy yếu, hệ thống đám rối tĩnh mạch suy yếu sa giãn hình thành búi trĩ.

- Yếu tố cơ học: Thai sản ở phụ nữ, các khối u vùng tiểu khung (u xơ tử cung, u nang buồng trứng, u phì đại tuyến tiền liệt...), bệnh lý tăng áp lực tĩnh mạch cửa, chủ, gây ứ máu ở đám rối tĩnh mạch trĩ.



- Các nguyên nhân khác:
Chế độ ăn: Ăn nhiều thức ăn cay nóng, kích thích như ớt, hạt tiêu, rượu...
Nghề nghiệp: Ngồi lâu, đứng lâu, lao động nặng nhọc, ngồi xổm, thói quen nhịn đại tiện.
Ngoài ra bệnh trĩ còn mang yếu tố gia đình.
Người mắc bệnh trĩ có các biểu hiện lâm sàng:
 Chảy máu:
Đặc điểm: Chảy máu tươi khi đại tiện, tự cầm khi kết thúc cuộc đi ngoài.
Chảy máu là biểu hiện sớm nhất, hay gặp nhất, hình thức chảy máu và số lượng máu chảy rất khác nhau. Lúc đầu chảy máu kín đáo, máu dính theo phân, về sau chảy máu nhỏ giọt hoặc phun thành tia sau mỗi khi rặn đi ngoài. Bệnh diễn biến mạn tính lâu ngày có thể dẫn đến tình trạng suy nhược thiếu máu.
Trĩ sa: Trĩ độ II trở lên, búi trĩ sa ra ngoài hậu môn tạm thời hoặc thường xuyên, đôi khi còn chảy dịch ẩm ướt khó chịu.
Đau: Trĩ nội bình thường không đau mà có cảm giác tức nặng ở hậu môn, chỉ đau khi có biến chứng: trĩ tắc mạch, trĩ nghẹt, trĩ viêm hoặc trĩ kết hợp với một bệnh khác như nứt kẽ, áp xe, rò hậu môn, viêm ống hậu môn...
Trĩ có nhiều thể khác nhau, được chia thành trĩ nội, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp và trĩ biến chứng:
Kết quả điều trị phụ thuộc vào chỉ định cho từng loại trĩ và mức độ nặng, nhẹ của bệnh.

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân phát sinh bệnh trĩ không chỉ do bệnh lý tại chỗ mà còn do yếu tố toàn thân như âm dương thiếu cân bằng, tạng phủ, khí huyết hư tổn, cùng với thấp, nhiệt, phong, táo, ăn uống, nghề nghiệp... gây ra.

THUỐC ĐÔNG Y CHỮA BỆNH TRĨ
Chữa bệnh trĩ theo phương pháp đông y đã được sử dụng từ ngàn đời nay

Trĩ có nhiều thể tùy thể bệnh với các chứng trạng mà dùng bài thuốc chữa khác nhau:
Thể thấp nhiệt ở đại tràng
Triệu chứng: Đại tiện ra máu, sắc đỏ tươi, số lượng nhiều hoặc ít, trĩ sa theo độ, đau nóng rát hậu môn, đại tiện táo hoặc đau quặn bụng, mót rặn, đại tiện bí khó đi, tiểu tiện vàng, sẻn. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch huyền, tế, sác.
Bài thuốc: Hòe hoa 15g, kinh giới tuệ 10g, chỉ xác 10g, hoàng bá 10g, trắc bá diệp (sao cháy) 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể tỳ hư không nhiếp huyết 
 Bạch truật.
Triệu chứng: Đại tiện ra máu tươi, sắc nhạt màu, lượng có thể nhiều ít khác nhau, kèm theo sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp mệt mỏi, ăn ngủ kém, phân táo lỏng thất thường, trĩ sa. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế vô lực.
Bài thuốc: Hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 20g, bạch truật 12g, bạch linh 12g, đương quy 12g, trần bì 5g, mộc hương 10g, tiên hạc thả 30g, chế hoàng tinh 30g. Sắc uống ngày một thang.

Thể khí hư hạ hãm
Triệu chứng: Thường thấy ở bệnh nhân có tuổi, mắc bệnh lâu ngày, trĩ sa không tự co, kèm theo sa niêm mạc trực tràng. Chảy máu tươi khi đại tiện ít hơn, sắc nhạt màu, kèm theo tinh thần mệt mỏi suy nhược, hụt hơi, ngại nói, sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp, váng đầu, ăn ngủ kém, đại tiện phân nát, tiểu tiện trong dài. Chất lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch trầm tế nhược.
Bài thuốc: Sài hồ 8g, bạch truật 12g, trần bì 6g, thăng ma 10g, đẳng sâm 15g, đương quy 12g, hoàng kỳ 10g, chích cam thảo 5g.
Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần trong ngày, uống liền 3 tuần (21 ngày).

Lương y Vũ Quốc Trung



Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

15 bài thuốc giúp da trắng mịn màng





Ai cũng biết, thuốc Đông y là một loại “mỹ phẩm” tự nhiên. Chúng tác động vào da và ngấm dần vào máu trong quá trình đắp mặt hoặc uống. Thế nên, chúng có công dụng lâu dài và an toàn, chứ không thể có tác dụng nhanh chóng như các loại hóa chất.

Hơn nữa, việc dùng thuốc Đông y để uống hay đắp mặt đều phải sử dụng theo đúng liều lượng và tùy từng loại da.

Các bài thuốc Đông y trắng da:

1. Bạch phục linh sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi tối, trước khi đi ngủ lấy một lượng bột thuốc vừa đủ hòa đều với lòng trắng trứng gà thành dạng hồ, thoa đều lên mặt thành một màng mỏng. Sáng hôm sau rửa sạch bằng nước ấm. Cũng có thể dùng mật ong để thay lòng trắng trứng. 

Bài thuốc có công dụng dưỡng da và làm trắng da, chủ trị chứng nám mặt và tàn nhang. Đây là một trong những phương thuốc làm đẹp da mặt rất đơn giản, dễ làm và hiệu nghiệm, lưu truyền rộng rãi trong dân gian và đã được ghi lại trong nhiều sách cổ.

 Thuốc Đông y có công dụng lâu dài và an toàn cho người sử dụng.

2. Hạnh nhân lượng vừa đủ, bỏ vỏ, giã hoặc xay thật nhuyễn trộn đều với lòng trắng trứng gà thành dạng cao lỏng. Mỗi tối, dùng cao thuốc này thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sau chừng 2 - 3 giờ thì dùng nước ấm rửa sạch. 

Có công dụng hoạt huyết hóa ứ, nhuận da, làm da trắng mịn, phòng chống tàn nhang và trứng cá. Để nâng cao hiệu quả, có thể thêm hoạt thạch lượng bằng hạnh nhân, một chút long não và xạ hương.

3. Trứng gà 1 quả, mật ong 1 thìa, đập vỡ trứng vào bát, đánh cho sủi bọt rồi cho mật ong vào quấy đều. Dùng nước ấm rửa mặt rồi lấy dịch thuốc thoa đều thành một màng mỏng, chờ cho khô chừng 60 phút thì dùng nước rửa sạch, mỗi tuần làm 2 lần. 

Công dụng: Dưỡng da, nhuận da. Nếu da dầu có thể cho thêm 1 thìa nước chanh. Sách Bách bệnh tự liệu diệu phương dùng bài này cho thêm 3 thìa sữa chua. Cũng có người dùng trứng gà, mật ong, bột mì và dầu thực vật làm thành bột thuốc nhão để đắp mặt dưới dạng mặt nạ.

4. Bạch cúc hoa, bạch quả, mật ong mỗi thứ 30g, nước lê, sữa tươi và rượu nếp mỗi thứ nửa cốc. Cho cúc hoa vào nước lê và rượu nếp chưng lấy nước đặc. 

Tiếp đó, giã nát bạch quả rồi hòa với dịch thuốc, mật ong và sữa tươi thành dạng cao lỏng. Mỗi tối dùng cao thuốc xoa đều lên mặt, sau khoảng 60 phút thì dùng nước ấm rửa sạch. Giúp thanh nhiệt giải độc, làm sạch trắng da và dưỡng da.

5. Bạch đinh hương, bạch cương tàm, bạch khiên ngưu, bạch tật lê, bạch cập mỗi loại 110g; bạch chỉ 75g, bạch phụ tử 18g, bạch linh 18g, tạo giác 50g, một ít bột đậu xanh. Tạo giác bỏ vỏ, tước xơ rồi đem sấy khô cùng các vị thuốc khác, tất cả tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần. 

Mỗi tối, lấy một lượng thuốc vừa đủ hòa với nước ấm rồi thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sau chừng 30 phút thì rửa sạch. Giúp da sáng mịn và mềm mại, phòng chống vết nhăn, tàn nhang và trứng cá.

6. Lá dâu phơi qua sương 600g, lá ngải cứu 16g, sắc lấy nước tắm hằng ngày, nếu kiên trì làm thật lâu có thể chữa  khỏi các chứng bệnh ngoài da và đau thần kinh, lại làm trắng sạch da.

7. Nếu bị tàn nhang, dùng dấm 500g, bạch truật 50g, ngâm 7 ngày rồi lấy dung dịch thoa lên mặt mỗi ngày vài lần.

8. Mỗi ngày lấy 10g rau sam khô sắc uống ba lần trước bữa ăn 30 phút. Dùng làm rau ăn cũng được, nhưng không nên ăn quá nhiều. Món này giúp làm trắng da.

9. Hạt sen, khiếm thực mỗi vị 30g, ý dĩ nhân 50g, long nhãn nhục 8g, thêm nước 500ml, sắc lửa nhỏ một tiếng đồng hồ, cho thêm lượng mật ong là ăn được. Công hiệu ích khí bổ huyết, nhuận da, tăng trắng.

 Không dùng thuốc Đông Y kết hợp với hóa chất.

10. Cúc hoa tươi 30g, cho nước vào đun sôi, sắc đặc, thêm một chút mật ong chế thành cao. Mỗi lần lấy 15g, dùng nước sôi pha quấy đều để uống. Công hiệu làm nhuận sáng da dẻ, chống suy lão.

11. Nếu da sần sùi, lấy nhân hạt ý dĩ sao khô, nghiền thành bột, ngày dùn ba lần, mỗi lần hai thìa cà phê, kiên trì hai tuần có thể làm cho da dẻ mịn màng. 

12. Mùa đông da khô, nhão, sần sùi, bạn có thể lấy 15 quả hồng táo và một ít nhân sâm, cho vào siêu đất ngâm nước nửa giờ, dùng lửa nhỏ sắc 30 phút là uống được. Loại trà dược này giúp ích khí dưỡng huyết, làm đẹp da. Lúc uống nhân sâm không nên uống trà và ăn củ cải.

13. Làm mờ tàn nhang trên da mặt bằng cách dùng lá ké non, rửa sạch, hong cho ráo hết nước, thêm chút muối ăn, giã thật nhuyễn. Hàng ngày xát nhẹ lên da mặt 2 - 3 lần; sau khi xát khoảng 10 phút thì rửa sạch. Kiên trì làm như vậy, các nốt tàn nhang sẽ mờ dần.

14. Làm mờ những vết xạm đen trên da dùng lá ké, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột thật mịn; sau mỗi bữa cơm hòa 3g với nước cơm hoặc nước cháo uống.

15. Dùng hoàng kỳ 500g, đương quy 500g, tất cả tán thô, trộn đều. Mỗi ngày dùng 10 - 15g bột thuốc, hãm nước sôi như pha trà, uống dần trong ngày. Với những trường hợp da xạm đen do âm huyết hư tổn, để khắc phục cần sử dụng các loại thuốc có tác dụng bồi bổ khí huyết, giúp da tươi nhuận và mịn màng.

Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong muốn phải dùng đúng cách và hết sức kiên trì, không nên kết hợp với các mỹ phẩm hiện đại. 


Theo www.thuocnamviet.com


Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Chương trình: San sẻ tình thương!

Chương trình thăm và tặng quà cho gia đình ông Phan Dương Nhường Thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh, Huyện Ba Vì, Hà Nội và gia đình cụ Ngô Thị Được thôn An Thái, xã Cẩm Lĩnh, Huyện Ba Vì, Hà Nội đã diến ra thành công tốt đẹp. Xin cảm ơn chính quyền địa phương đã tiếp đón chu đáo và tạo điều kiện cho chương trình diễn ra thành công tốt đẹp. Cảm ơn Ban Đối Ngoại sbbc.vn đã ủng hộ và cùng tham gia chương trình.  Cảm ơn tất cả các thành viên trong Hội Từ Thiện Hà Nội sbbc.vn đã nhiệt tình ủng hộ và tham gia chương trình. Cám ơn tất cả các anh chị blogger xa gần đã ủng hộ và đóng góp cho chương trình.

Thăm và tặng quà cho gia đình ông Phan Dương Nhường.
Hoàn cảnh gia đình: Gà trống nuôi con. ông lam lũ làm ăn kiếm sống nuôi con, do tuổi cao sức yếu, bệnh tật nên không thể làm gì, con gái ngoài 20 tuổi nhưng sức lực có hạn và tinh thần không minh mẫn, nên phải chông trờ rất nhiều vào hàng xóm, hiện tại hai bố con không thể lao động để tạo ra thu nhập, đang rất cần những bàn tay hỗ trợ của hàng xóm, và các tổ chức từ thiện


Cả đoàn chụp ảnh lưu niệm với gia đình ông Phan Dương Nhường.


Thăm và tặng quà cho gia đình cụ Ngô Thị Được.
Gia đình Cụ Được, năm nay Cụ 87 tuổi sống cùng con trai Đặng Văn Canh 53 tuổi , Anh bị tâm thần và bại liệt từ nhỏ nên không thể tham gia lao động, gia đình chỉ chông chờ vào trợ cấp của nhà nước và hàng xóm láng riềng.


Cả đoàn chụp ảnh lưu niệm với gia đình cụ Ngô Thị Được.



Ông Chu Thừa Tiến, đại diện chính quyền địa phương gửi lời cám ơn tới đoàn cùng các nhà hảo tâm xa gần đã ủng hộ, đóng góp giúp đỡ cho hai gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa phương.



Trước khi về không quên tạo dáng trước vườn hoa nhà bí thư xã.




CHƯƠNG TRÌNH ĐÃ THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP!

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Một số bài thuốc chữa tiểu tiện quá nhiều lần

Tất cả những trường hợp số lần tiểu tiện tăng nhiều gọi là chứng bệnh tiểu tiện quá nhiều lần. Nói chung, người lớn số lần tiểu tiện ban ngày là 4-5 lần, ban đêm 0-2 lần, mỗi lần lượng nước tiểu khoảng 300-500ml. Sinh ra tiểu tiện nhiều lần có thể là do sinh lí và bệnh lí.

Người bình thường nếu là do uống vào lượng lớn nước, ăn món canh hoặc nước luộc nhiều, mồ hôi ra ít, nhiệt độ hạ thấp, tinh thần căng thẳng gây tiểu tiện nhiều lần thì đó là tiểu tiện có tính sinh lí. Còn tiểu tiện nhiều lần có tính bệnh lí bao gồm các loại cảm nhiễm ở đường niệu, sỏi ở đường niệu, tiền liệt tuyến phì đại, v.v... chủ yếu vì chứng viêm hoặc những dị vật kích thích nén ép đường niệu, buộc cơ ở đường niệu thu co gây nên tiểu tiện nhiều lần. Ngoài ra, một số bệnh có tính toàn thân cũng có thể vì lượng nước tiểu tăng nhiều gây tiểu tiện nhiều lần, như bệnh tiểu đường, cường năng tuyến giáp, thận mạn tính, bệnh máu thấp potassium, băng niệu, v.v… Sử dụng một số thuốc cũng có thể gây tiểu tiện nhiều lần.
Đông y cho rằng những người tiểu tiện nhiều lần, mót tiểu tiện gấp, đau khi tiểu tiện, mỗi lần tiểu tiện lượng nước ít, nhưng một ngày lượng tiểu tiện bình thường thuộc lâm chứng (chứng bệnh tiểu tiện không thông thoát, phải rặn nhiều và đau buốt). Còn tiểu tiện nhiều lần có kèm theo một ngày lượng nước tiểu tăng nhiều thuộc tiêu khát. Trường hợp trước thường vì bàng quang bị thấp nhiệt, can uất khí trệ, tì thận lưỡng hư làm cho bàng quang khí hoá bất lợi gây nên. Trường hợp sau chủ yếu vì phế thận âm hư táo nhiệt gây nên. Ngoài ra, những người già bình thường do thận khí không chắc cũng có thể gây nên tiểu tiện đêm nhiều lần, đó vẫn thuộc hiện tượng bình thường.
Đối với chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần, nguyên tắc ăn uống phải:
1. Người bệnh tiểu tiện nhiều lần do lâm chứng, ăn uống cần phải thanh lương thông lợi là chính, ăn các thức ăn như bí xanh (bí đao), dưa hấu, đỗ đỏ, đỗ xanh, tể thái, măng tre, v.v…
2. Người bệnh lâm chứng cần kiêng ăn thức ăn nhiều dầu mỡ, các thức ăn có tính kích thích, cay.
3. Người bệnh lâm chứng thuộc tì thận lưỡng hư, có thể ăn một số thức ăn thanh bổ như hạt sen, sơn tra, khoai tây, quả nhãn, thịt gà, cá, các loại quả, trứng, v.v...
4. Người bệnh lâm chứng ngày thường còn cần uống nhiều nước sôi để nguội hoặc nước trà.
5. Người bệnh tiêu khát, lượng nước tiểu mỗi lần nhiều, cần khống chế ăn uống, ăn ít những thức ăn nhiệt lượng cao, nhiều đường, nhiều mỡ, loại tinh bột như gạo, bột mì, v.v… cũng cần khống chế thích đáng.
6. Người bệnh tiêu khát, thường ngày có thể ăn nhiều một số thức ăn thuộc prô-tê-in thực vật, prô-tê-in động vật, các loại rau quả củ như đậu, chế phẩm của đậu, ngô, trứng, thịt nạc, cá, thịt gà, các loại rau có màu xanh, v.v…
7. Người bệnh tiêu khát cần kiêng hút thuốc lá và uống rượu.
Một số bài thuốc chữa bệnh tiểu tiện nhiều lần hiệu nghiệm:
Bài 1: Giá đỗ xanh 500gam, đường trắng 50gam, đem luộc giá đỗ xanh chín kĩ lấy nước, pha đường trắng uống nhiều lần trong ngày, chữa chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu ngắn, rít, ra dầm dề không dứt.
Bài 2: Cù mạch 30gam, hạt kê 50gam. Nấu cù mạch lấy nước thuốc, sau đó cho hạt kê vào nấu thành cháo để ăn ngày hai lần. Thích hợp chữa cảm nhiễm ở đường niệu gây nên tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu ngắn, rít đau.
Bài 3: Dạ dày lợn làm sạch 500gam, gạo tẻ 100gam. Luộc dạ dày lợn cho chín tới 5/10, vớt ra thái thành sợi nhỏ, cho vào nồi cùng với gạo nấu thành cháo, khi chín dừ, ngày ăn hai lần. Thích dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, tiêu khát, người thiểu lực.
Bài 4: Khiếm thực 20gam, hạt hướng dương 50gam. Giã nát hạt hướng dương, trộn với khiếm thực nấu thành canh để ăn. Thích dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu trắng đục như nước vo gạo, hoặc có kèm theo thắt lưng và chân đau mỏi, mềm yếu.
Bài 5: Râu ngô tươi mới 30gam, kim tiền thảo lá to 30gam, nấu lấy nước uống thay nước trà trong ngày. Thích dụng chữa chứng bệnh sỏi ở đường niệu nên tiểu tiện nhiều lần, đau khi tiểu tiện, có khi tiểu tiện ra cả sỏi.
Bài 6: Mề gà 2 cái, đỗ đỏ 50gam. Nấu chín đỗ đỏ tới 5/10, sau đó cho mề gà đã làm sạch thái miếng vào nấu tiếp cho chín dừ để ăn ngày một lần. Thích dụng chữa bệnh tiểu tiện nhiều lần, mót tiểu tiện gấp, sỏi ở đường niệu.
Bài 7: Thận lợn 2 quả, hạch đào nhân 30gam, đỗ trọng 15gam; làm sạch thận lợn thái miếng cùng đỗ trọng cho vào nồi nấu với hạch đào và chút nước cho chín dừ để ăn. Thích dụng với chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu trong, dài; liệt dương, sợ lạnh.
Bài 8: Bạch quả 5 quả, hạt quả bí đao (bí xanh) 30gam, nấu lấy nước uống, ngày một lần. Thích dụng chữa chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần.
Bài 9: Thịt ba ba 1 con, gừng sống, muối gia vị vừa phải, hấp chín để ăn. Thích dụng chữa chứng bệnh tiêu khát, tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu dài, lòng bàn tay bàn chân nóng.
Bài 10: Sinh địa hoàng 30gam, trứng gà một quả, muối lượng vừa đủ. Nấu sinh địa hoàng lấy nước thuốc, sau đó đập trứng gà vào khuấy đều, cho muối vào hấp cách thủy thành canh trứng để ăn. Thích dụng chữa bệnh tiêu khát, miệng khô, thắt lưng mỏi, tiểu tiện nhiều lần.
Bài 11: Cẩu khởi tử 15gam, rửa sạch nấu lấy nước uống ngày hai lần. Thích dụng chữa chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần do tiêu khát, thắt lưng mỏi nhừ, mềm yếu, tai ù.
Theo: www.thuocnamviet.com

Chữa Hôi Nách

Thuốc chữa hôi nách không khó tìm. Nhưng cái chính cần quan tâm là thuốc chữa hôi nách đó có thật sự hiệu quả và thuốc chữa hôi nách hiệu quả trong thời gian bao lâu? Nếu bạn mới bị bệnh hôi nách thì bạn có thể áp dụng 1 trong những cách bên dưới đây.




Bệnh Hôi nách là bệnh thường gặp ở cả nam và nữ nhưng tỷ lệ nữ giới mắc bệnh thường cao hơn. Đây không phải là một bệnh truyền nhiễm nên không lây qua các tiếp xúc thông thường mà chủ yếu là tuyến mồ hôi trên cơ thể và yếu tố di truyền

Chữa hôi nách bằng bài thuốc dân gian


  1. Trị hôi nách bằng dấm: Dấm gạo 100g trộn lẫn với 5g bột hồi, trộn đều tay. Sau đó, bôi lên phần da dưới nách.
  2. Trị hôi nách bằng Hạt tiêu kết hợp rượu: Cho 50 g bột hạt tiêu xay tươi, cho vào 300 ml rượi, ngâm trong vòng 15 ngày. Sau đó, vệ sinh sạch sẽ vùng nách, và bôi hỗn hợp rượu và hạt tiêu vào dưới vùng nách, có thể thấy ngay hiệu quả, ngày làm hai lần sáng tối.
  3. Gừng tươi trị hôi nách: Gừng tươi rửa sạch, giã nhuyễn, sau đó lấy vải sạch vắt lấy nước, bỏ bã. Dùng nước gừng nguyên chất bôi vào nách, một ngày vài lượt.
  4. Trị hôi nách bằng hạt nhãn và hạt tiêu: Lấy 50 hạt hạt tiêu, 20 hạt nhãn sau trộn lẫn, xay nhuyễn thành bột, sau đó đắp vào dưới nách, có tác dụng hạn chế bệnh hôi nách.
  5. Chữa hôi nách bằng phèn chua: Cho 50g phèn chua vào trứng, dùng lửa nhỏ hơ đến khi phèn chảy nước, rồi đợi phèn cứng lại, rồi giã nhuyễn thành bột, bôi vào nách, ngày 2 lần, có tác dụng giảm nhẹ, điều trị kiên trì có thể chữa khỏi bệnh hôi nách.
  6. Chữa hôi nách bằng củ Từ: Củ Từ tươi, cắt thành lát đắp dưới nách, mỗi ngày làm từ 1-2 lượt, có thể trị hôi nách.
  7. Lá ngải kết hợp với phèn trị bệnh hôi nách: Lấy 20 g lá ngải phơi khô, giã nhỏ, đảo đều với 20 g bột phèn chua, và 200 g muối tinh, bắc lên bếp đảo nóng, sau đó đổ hỗn hợp vào túi vải, rồi kẹp ở dưới nách 5 phút, có tác dụng loại trừ bệnh hôi nách, áp dụng sau 1 tháng là có kết quả.
  8. Trị hôi nách bằng Cà chua: Ép sinh tố 1 quả cà chua, nách vệ sinh sạch sẽ, đổ nước cà chua ép vào trong bồn rửa mặt đã được làm sạch, sau đó xả nước ấm ngập 2/3 bồn. Dùng hỗn hợp nước cà chua ở bồn lau đi lau lại nách trong vòng 30 phút, mỗi tuần áp dụng từ 2, 3 lần.



Người mắc bệnh hôi nách, thường không tự tin, dễ căng thẳng, là mối trở ngại lớn trong giao tiếp xã hội, chúng tôi khuyên các bạn nên chữa trị kịp thời, nếu không sẽ là mối nguy lớn cho bạn đấy.
Với phương pháp sử dụng bài thuốc dân gian ở trên chỉ có hiệu quả trong thời gian ngắn và với những người mới bị bệnh hôi nách. Không thật sự chữa trị hôi nách hiệu quả. Để chữa trị dứt điểm hôi nách bạn cần sử dụng các loại thuốc uống, thuốc bôi, tiêm Botulium, điều trị lasze, tiểu phẫu hút bỏ nội soi tuyến mồ hôi nách. Các phương pháp thông thường chỉ có tác dụng diệt vi khuẩn, giảm sự tiết mồ hôi nên thường không cho hiệu quả lâu dài. Để loại bỏ triệt để mùi mồ hôi dưới cánh tay cần thực hiện thủ thuật tiểu phâũ loại bỏ tuyến mồ hôi lớn, phương pháp này đem lại hiệu quả trên 90%, không gây đau đớn, người bệnh không cần nằm viện mà có thể ở nhà ngay

Phương pháp chữa trị hôi nách hiệu quả
Hiện nay Phòng khám đa khoa Thiên Tâm đã phát triển kĩ thuật xâm lấn tối thiểu nhằm giúp bệnh nhân loại bỏ triệt để mùi hôi dưới cánh tay. Sau tiểu phẫu vết thương rất nhỏ, sẹo mờ gần như không nhìn thấy, đã khắc phục được hầu hết nhược điểm của phương pháp truyền thống. Trong suốt quá trình tiểu phẫu bệnh nhân được gây tê cục bộ nên sẽ không có cảm giác đau đớn gì, thủ thuật đơn giản diễn ra trong vòng 20-30 phút là xong, người bệnh có thể hoạt động bình thường. Đây được coi là sự lựa chọn lý tưởng đối với những người bệnh hôi nách có tình trạng bệnh khá nặng và mắc bệnh trong thời gian khá dài.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia trị hôi nách hy vọng sẽ cung cấp cho bạn thông tin hữu ích

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH BÊN TRONG (THẤT TÌNH)



1. Bảy thứ tình chí gây ra do những rối loạn về tâm lý, tình cảm.
Đó là: Vui, giận, buồn, nghĩ, lo, kinh sợ.
2. Tình chí bị kích độnghay những sang chấn tinh thần gây ra mất thăng bằng về âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mà gây ra các bệnh nội thương như cao huyết áp, suy nhược thần kinh, loét dạ dày, tá tràng…..
3. Thất tình và tạng phủ có liên quan mật thiết.
- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hoá ra thất tình, can sinh ra giận giữ, tâm sinh ra vui mừng, tỳ sinh ra suy nghĩ, phế sinh ra lo lắng, thận sinh ra kinh sợ.
- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của phủ tạng: Giận hai can, vui quá hại tâm, nghĩ hại tỳ, lo hại phế, sợ hại thận. Đặc biệt thất tình làm ảnh hưởng tới khí của phủ tạng; giận làm khí thăng ( cáu gắt). Vui thì kí hoãn, buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ.
4. Thất tình đặc biệt hay gây các chưúng bệnh cho 3 tạng: Tâm, can, tỳ
 Tâm: Kính quý, chính xung, mất ngủ, hay quên, tinh thần không ổn định, hoang tưởng, cười nói luyên thuyên, thao cuồng, điên cuồng….
 Can: Tinh thần uất ức, hay cáu gắt, mạng sườn đầy tức, phụ nữ đau vú, kinh nguyệt không đều, thống kinh.
 Tỳ: Ăn uống kém, không muốn ăn, bụng đầy, đại tiện thất thường, phụ nữ bế kinh, phong huyết….
- Gây sốt: Sốt cao, phiền táo, mặt đỏ, nước tiểu đỏ, khát họng, họng đỏ sưng đau.
- Gây viêm nhiệt ở phần trên: Như tâm hoả gây loét lưỡi: Vị hoả gây sưng lợi, can hoả gây mắt đỏ, sưng đau.
b) Hoả hay dốt tân dịch: Gây khát nước, miệng  khô,lưỡi khô, táo, nặng có thể nói mê sảng, hôn mê.
c) Hoả hay gây chảy máu ( bức huyết vong hành), phát ban do nhiệt, làm tổn thương mạch lạc như lôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm.

Theo: Tài Liệu Y Học Cổ Truyền

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH BÊN NGOÀI (LỤC DÂM, LỤC TÀ)




- Sáu thứ khí: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng), thấp (độ ẩm), táo (độ khô), hoả (nhiệt), khi trở thành nguyên nhân gây bệnh gọi là lục dâm, lục tà.
 - Gây ra những bệng ngoại cảm (bệnh do bên ngoài đưa tới) như bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm, đau dây thần kinh ngoại biên do lạnh…
 - Luôn luôn quan hệ với thời tiết: phong: mùa xuân, hàn: mùa đông, thử: mùa hè, táo: màu thu.
 - Sau thứ khí hay phối hợp với nhau, mà phong hay xuất hiện hơn cả, làm bệnh có tính chất đa dạng như phong hàn, phong nhiệt, phong thấp…
 - Cần phân biệt chứng phong, hàn, thấp, táo, hoả do lục khí gây ra (ngoại phong, ngoại hàn, ngoại thấp, ngoại táo, ngoại hoả) với các chứng phong hàn,  thấp, táo, hoả do trong cơ thể sinh ra (nội phong, nội hàn, nội thấp, nội táo, nội nhiệt).
1. Phong
          Phong có hai loại: ngoại phong là gió, chủ khí về xuân nhưng màu nào cũng gây bệnh, hay phối hợp với các khí khác: hàn, thấp, nhiệt thành phong hàn, phong thấp, phong nhiệt. Nội phong sinh ra do công năng của tạng can bất thường (can phong) xuất hiện các chứng: co giật, chóng mặt, hoa mắt…
1.1.  Đặc tính của phong
- Phong là dương tà hay đi lên và ra ngoài, nên hay gây bệnh ở phần trên của cơ thể (đầu, mặt),và ở phần ngoài (cơ biểu) làm da lông khai tiết: ra mồ hôi, sịư gió, mạch phù…
- Phong hay di động và biến hoá: bệnh do  phong hay di chuyển như đau các khớp, đau chỗ này chỗ khá, ngứa nhiều chỗ lên gọi là “phong động” biến hoá bệnh nặng, nhẹ mau lẹ.
1.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do phong
a. Phong hàn
 - Cảm mạo do lạnh: ngạt mũi, chảy nước mũi, sợ lạnh, sợ gió, mạch phù.
 - Đau dây thần kinh ngoại biên, đau các khớp do lạnh.
 - Ban chẩn dị ứng, viêm mũi dị ứng do lạnh.
b. Phong nhiệt
 - Cảm mạo có sốt, giai đoạn đầu các bệnh truyền nhiễm: sốt, sợ gió, không sợ lạnh, họng đau đỏ, nước tiểu vàng, chất lưỡi và rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
 - Viêm màng tiếp hợp theo mùa, dị ứng.
 - Viêm khớp cấp.
c. Phong thấp
 - Viêm khớp dạng thấp, thoái khớp.
 - Đau các dây thần kinh ngoại biên.
1.3. Chứng nội phong (can phong)
 Do can khí thực kích động đến cân hay do can huyết hư không nuôi dưỡng cân:
  - Sốt cao co giật
  - Bệnh cao huyết áp do can thận âm hư làm can dương nôi lên gây nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt…
  - Các tai biến mạch máu não do nhũn não, chảy máu não do can huyết hư gây các chứng: liệt nửa người, chân tay co quắp…
2. Hàn
     Hàn có hai loại: ngoại hàn do lạnh, chủ khí về mùa đông gây ra bệnh ở cơ thể bằng 2 cách: thương hàn là hàn phạm vào phần cơ biểu bên ngoài, trúng hàn là hàn trực trúng vào tạng phủ. Nội hàn là do dương khí của cơ thể kém làm các cơ năng giảm sút gây ra bệnh.
2.1. Đặc tính của hàn
  - Hàn là âm tà hay tổn thương dương khí: như hàn phạm vào da cơ, vệ khí bị yếu gây cảm mạo, hàm phạm vào tỳ vị làm tỳ dương hư không vận hoá được đồ ăn gây ỉa chảy, tay chân lạnh.
 - Hàn hay ngừng trệ, hay gây đau tại chỗ: hàn xâm phạm vào cơ thể gây khi huyết ứ trệ, không thôn gây đâu như đau dạ dày do trời lạnh, cước làm xung huyết gây đau.
 - Hàn hay gây co rút,  làm bế tắc lại, như lạnh gây co cứng cơ, đau vay gáy, đau lưng, viêm đại tràng co thắt do lạnh, chuột rút các cơ do lạnh…
2.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do hàn
          - Phong hàn: đã trình bày ở phần phong
          - Hàn thấp: đi ỉa chảy, nôn mửa, đau bụng do lạnh.
2.3. Chứng nội hàn: Thường do dương hư
a. Tâm phế dương
 - Chứng tắc động mạch vành, mùa lạnh hay gặp.
 - Hen kèm với những triệu chứng dương hư, vì thận dương hư không nạp phế khí.
b. Tỳ vị hư hàn
  Ăn kém, đầy bụng, sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, mạch trầm trì, trầm nhược.
c. Thận dương hư
          Người già sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, tiểu tiện nhiều lần…
          Chứng nội hàn do dương khí kèm, thì vệ khí cũng kém hay gây cho người ta dễ dàng bị cảm lạnh.
3. Thử (nắng), chủ khí về mùa hè
3.1 Đặc tính của thử
          - Thử là dương tà hay gây sốt và hiện tượng viêm nhiệt, khát, mạch hồng, ra mồ hôi.
          - Thử hay đi lên trên, tản ra ngoài (thăng tán) làm mất tân dịch: gây ra mồ hôi nhiều, mất nước và điện giải có thể gây hôn mê, truỵ mạch.
          - Hay phối hợp với thấp lúc cuối hạ sang thu gây ra các chứng ỉa chảy, lỵ.
3.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do thử
a. Thử nhiệt:nhẹ gọi là thương thử, nặng gọi là trúng thử.
          - Thương thử: sốt về mùa hè, vật vã, khát, mỏi mệt.
-  Trúng thử: Say nắng: nhẹ thì hoa  mắt chóng mặt, nặng thì đột nhiên hôn mê, bất tỉnh nhân sự, khò khè ra mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh.
b) Thử thấp: Đi ỉa chảy về cuối mùa hè, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng.
4. Thấp( Độ ẩm thấp)
Thấp gồm hai loại: Ngoại thấp, độ thấp chủ khí về cuối mùa hạ, hay gặp ở nơi ẩm thấp, và những người làm việc ở nơi thấp, nội thất di tỳ hư vận hoá giảm sút, tân dịch đình lại gây thấp.
4.1. Đặc tính của thấp.
- Thấp hay gây ra chứng nặng nề như đau khớp chân tay mình mẩy nặng nề, cảm mạo do cảm lạnh kèm thêm thấy mỏi nhừ toàn thân.
- Hay bài tiết ra các chất đục ( thấp trọc), như đại tiện lỏng, nước tiểu đục, chảy nước dục trong bệnh chàm.
- Thấp hay gần dính, nhớt: miệng dính nhớt, tiểu tiện khó ( sáp) khi gây bệnh khó trừ được nên hay tái phát như phong thấp.
- Thấp là âm tà hay làm tổn thương dương khí, gây trở ngại cho khí vận hành.
- Thấp làm dương khí của tỳ vị bị giảm sút, ảnh hưỏng đến sự vận hoá thuỷ thấp gây chứng phù thũng, ảnh hưởng đến vận hoá dồ ăn gây cá chứng bệnh về tiêu hoá như nhạt miệng, ăn kém, đầy bụng, ỉa chảy, mót rặn.
4.2. Các chứng bệnh hay gặp do phong thấp.
- Phong thấp: Đã nêu ở phần phong.
- Hàn thấp: Đã nêu ở phần hàn.
- Thấp chẩn: Bệnh chàm.
- Thấp nhiệt: Gồm tất cả các bệnh nhiễm trùng ở đường tiết liệu sinh fục và tiêu hoá, như viêm gan, viêm đường dẫn mật, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng, viêm phần phụ, viêm niệu đạo âm đạo, viêm bàng quang…
4.3. Chứng nội thấp (Do tỳ hư không vậm hoá được thuỷ thấp).
Ở thương tiêu: Đầu nặng, hoa mắt, tức ngực, chậm  tiêu, miệng dính, ỉa chảy, chân tay nặng nề, mệt.
Ở hai tiêu: Phù ở chân, nước tiêut ít, đục, phụ nữ ra khí hư ( đới hạ).
5. Táo
Táo có hai loại: Ngoại táo là độ khô chủ khí về mùa thu, xâm nhập bắt đầu từ mũi, miệng, phế và vị khí vào bên trong cơ thể chia làm hai thể: ôn táo và lương táo, nội táo do tân dịch, khí, huyết áp giẩm sốt gây ra bệnh.
5.1. Đặc tính của táo.
Tính khô hay làm tổn thương tân dịch: Mũi khô, họng  khô, da khô, đại tiện táo, nước tiểu ít, ho khan ít đờm.
5.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do táo.
Lương táo: Sốt, sợ lạnh, đau đầu không có mồ hôi, họng khô, ho đờm ít hay gặp do chứng cảm mạo do lạnh về mùa thu.
Ôn táo: Sốt cao, ít sợ lạnh, đau đầu, đau ngực, mũi khô, miệng khát, tâm phiền, đầu lưỡi đỏ, hay gây chứng mất tân dịch và điện giải ( Âm hư, huyết nhiệt) dễ gây biến chứng nhiễm độc thần kinh và vận mạch: Nói làm nhảm, vật vã, hôn mê, suất huyết, viêm não…..
5.3. Chứng nội táo.
Do bẩn tố tạng nhiệt, dùng quá lâu ngày thuốc đắng, thuốc hạ, bệnh sốt cao kéo dài lâu ngày làm tân dịch bị hao tổn, gây ra các chứng khát, da, tóc lông khô, táo gầy…..
6. Hoả.
Hoả và nhiệt giống nhau là một khí trong lục dâm, như các khí khác như phong, thấp, hàn, táo cũng có thể hoá hoả, ngoài ra các tạng phủ, tình chí cũng biến hoả, như can hoả, tâm hoả, đờm hoả….
Cần phân biệt chứng hư hoả ( hư nhiệt) với chứng hoả do bên ngoài đưa tới ( thực nhiệt).
6.1. Đặc tính của hoả
a) Hoả hay gây sốt và chứng viêm nhiệt.
- Gây sốt: Sốt cao, phiền táo, mặt đỏ nước tiểu đỏ, khát họng đỏ sưng đau.
- Gây viêm nhiệt ở phần trên: Như tâm hoả gây loét lưỡi; vị hoả gây sưng lợi, can hoả gây mắt đỏ, sưng đau.
b) Hoả hay đốt tân dịch: Gây khát nước, miệng khô, lưỡi khô, táo, nặng có thể nói mê sảng, hôn mê.
c) Hoả hay gây chảy máu ( bức huyết vong hành), phát ban do nhiệt, làm tổn thương mạch lạc như nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm.
6.2.Các chứng bệnh hay xuất huyết do hoả.
a) Hoả độc, nhiệt độc.
- Hay gây ra các bệnh nhiễm trùng: Mụn, nhọt, viêm họng, viêm phổi…
- Gây các bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát không có hoặc có biến chứng gây mất nước, nhiễm độc thần kinh, chảy máu, mặt đỏ, sợ nóng, khát, táo, tiểu tiện ít đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, chất lưỡi đỏ giáng, mạch nhanh, có thể thấy mê sảng, hôn mê hoặc nôn ra máu, chảy náu cam…
b) Thấp nhiệt
c) Phong nhiệt
d) Táo nhiệt                   Đã trình bày ở các phần: Phong, thấp, táo, thử.
e) Thử nhiệt
6.3. Chứng hư nhiệt: Do âm hư sinh nội nhiệt: Gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, nhức xương, ra mồ hôi trộm, ho khan, họng khô, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không có rêu.

 Tài liệu Y Học Cổ Truyền