Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

THUỐC ĐÔNG Y CHỮA BỆNH TRĨ




Bệnh trĩ phát sinh do tình trạng phồng giãn và sung huyết đám rối tĩnh mạch hậu môn trực tràng, hình thành một hay nhiều búi trĩ; tùy theo vị trí giải phẫu và mức độ sung huyết của đám rối tĩnh mạch trĩ trong hoặc trĩ ngoài mà phân thành trĩ nội, trĩ ngoại. Bệnh hay gặp ở cả nam và nữ, lứa tuổi chủ yếu là trung niên và người cao tuổi. Ở Việt Nam bệnh trĩ có tỷ lệ mắc bệnh khá cao từ 30-35% dân số, đứng hàng thứ 3 trong cơ cấu bệnh hậu môn trực tràng.



 Hoa đẳng sâm.
Có nhiều nguyên nhân và những yếu tố thuận lợi sinh ra bệnh, được tập trung vào 4 nhóm chính:
Nhóm bệnh lý đường tiêu hóa: Hội chứng lỵ, viêm đại tràng mạn tính, rối loạn tiêu hóa kéo dài, táo bón... khiến cho người bệnh đi ngoài phải rặn nhiều, thời gian đại tiện lâu tạo điều kiện phát sinh bệnh trĩ.

Sự suy yếu tổ chức nâng đỡ tại chỗ: Do lớp cơ ở dưới niêm mạc hậu môn trực tràng, hệ thống co thắt, dây chằng, cơ nâng bị suy yếu, hệ thống đám rối tĩnh mạch suy yếu sa giãn hình thành búi trĩ.

Yếu tố cơ học: Thai sản ở phụ nữ, các khối u vùng tiểu khung (u xơ tử cung, u nang buồng trứng, u phì đại tuyến tiền liệt...), bệnh lý tăng áp lực tĩnh mạch cửa, chủ, gây ứ máu ở đám rối tĩnh mạch trĩ.



Các nguyên nhân khác:
Chế độ ăn: Ăn nhiều thức ăn cay nóng, kích thích như ớt, hạt tiêu, rượu...
Nghề nghiệp: Ngồi lâu, đứng lâu, lao động nặng nhọc, ngồi xổm, thói quen nhịn đại tiện.
Ngoài ra bệnh trĩ còn mang yếu tố gia đình.
Người mắc bệnh trĩ có các biểu hiện lâm sàng:
 Chảy máu:
Đặc điểm: Chảy máu tươi khi đại tiện, tự cầm khi kết thúc cuộc đi ngoài.
Chảy máu là biểu hiện sớm nhất, hay gặp nhất, hình thức chảy máu và số lượng máu chảy rất khác nhau. Lúc đầu chảy máu kín đáo, máu dính theo phân, về sau chảy máu nhỏ giọt hoặc phun thành tia sau mỗi khi rặn đi ngoài. Bệnh diễn biến mạn tính lâu ngày có thể dẫn đến tình trạng suy nhược thiếu máu.
Trĩ sa: Trĩ độ II trở lên, búi trĩ sa ra ngoài hậu môn tạm thời hoặc thường xuyên, đôi khi còn chảy dịch ẩm ướt khó chịu.
Đau: Trĩ nội bình thường không đau mà có cảm giác tức nặng ở hậu môn, chỉ đau khi có biến chứng: trĩ tắc mạch, trĩ nghẹt, trĩ viêm hoặc trĩ kết hợp với một bệnh khác như nứt kẽ, áp xe, rò hậu môn, viêm ống hậu môn...
Trĩ có nhiều thể khác nhau, được chia thành trĩ nội, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp và trĩ biến chứng:
Kết quả điều trị phụ thuộc vào chỉ định cho từng loại trĩ và mức độ nặng, nhẹ của bệnh.

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân phát sinh bệnh trĩ không chỉ do bệnh lý tại chỗ mà còn do yếu tố toàn thân như âm dương thiếu cân bằng, tạng phủ, khí huyết hư tổn, cùng với thấp, nhiệt, phong, táo, ăn uống, nghề nghiệp... gây ra.

THUỐC ĐÔNG Y CHỮA BỆNH TRĨ
Chữa bệnh trĩ theo phương pháp đông y đã được sử dụng từ ngàn đời nay

Trĩ có nhiều thể tùy thể bệnh với các chứng trạng mà dùng bài thuốc chữa khác nhau:
Thể thấp nhiệt ở đại tràng
Triệu chứng: Đại tiện ra máu, sắc đỏ tươi, số lượng nhiều hoặc ít, trĩ sa theo độ, đau nóng rát hậu môn, đại tiện táo hoặc đau quặn bụng, mót rặn, đại tiện bí khó đi, tiểu tiện vàng, sẻn. Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch huyền, tế, sác.
Bài thuốc: Hòe hoa 15g, kinh giới tuệ 10g, chỉ xác 10g, hoàng bá 10g, trắc bá diệp (sao cháy) 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể tỳ hư không nhiếp huyết 
 Bạch truật.
Triệu chứng: Đại tiện ra máu tươi, sắc nhạt màu, lượng có thể nhiều ít khác nhau, kèm theo sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp mệt mỏi, ăn ngủ kém, phân táo lỏng thất thường, trĩ sa. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế vô lực.
Bài thuốc: Hoàng kỳ 30g, đẳng sâm 20g, bạch truật 12g, bạch linh 12g, đương quy 12g, trần bì 5g, mộc hương 10g, tiên hạc thả 30g, chế hoàng tinh 30g. Sắc uống ngày một thang.

Thể khí hư hạ hãm
Triệu chứng: Thường thấy ở bệnh nhân có tuổi, mắc bệnh lâu ngày, trĩ sa không tự co, kèm theo sa niêm mạc trực tràng. Chảy máu tươi khi đại tiện ít hơn, sắc nhạt màu, kèm theo tinh thần mệt mỏi suy nhược, hụt hơi, ngại nói, sắc mặt kém tươi nhuận, hồi hộp, váng đầu, ăn ngủ kém, đại tiện phân nát, tiểu tiện trong dài. Chất lưỡi nhạt bệu, rêu lưỡi trắng mỏng. Mạch trầm tế nhược.
Bài thuốc: Sài hồ 8g, bạch truật 12g, trần bì 6g, thăng ma 10g, đẳng sâm 15g, đương quy 12g, hoàng kỳ 10g, chích cam thảo 5g.
Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần trong ngày, uống liền 3 tuần (21 ngày).

Lương y Vũ Quốc Trung



Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

15 bài thuốc giúp da trắng mịn màng





Ai cũng biết, thuốc Đông y là một loại “mỹ phẩm” tự nhiên. Chúng tác động vào da và ngấm dần vào máu trong quá trình đắp mặt hoặc uống. Thế nên, chúng có công dụng lâu dài và an toàn, chứ không thể có tác dụng nhanh chóng như các loại hóa chất.

Hơn nữa, việc dùng thuốc Đông y để uống hay đắp mặt đều phải sử dụng theo đúng liều lượng và tùy từng loại da.

Các bài thuốc Đông y trắng da:

1. Bạch phục linh sấy khô, nghiền thành bột thật mịn. Mỗi tối, trước khi đi ngủ lấy một lượng bột thuốc vừa đủ hòa đều với lòng trắng trứng gà thành dạng hồ, thoa đều lên mặt thành một màng mỏng. Sáng hôm sau rửa sạch bằng nước ấm. Cũng có thể dùng mật ong để thay lòng trắng trứng. 

Bài thuốc có công dụng dưỡng da và làm trắng da, chủ trị chứng nám mặt và tàn nhang. Đây là một trong những phương thuốc làm đẹp da mặt rất đơn giản, dễ làm và hiệu nghiệm, lưu truyền rộng rãi trong dân gian và đã được ghi lại trong nhiều sách cổ.

 Thuốc Đông y có công dụng lâu dài và an toàn cho người sử dụng.

2. Hạnh nhân lượng vừa đủ, bỏ vỏ, giã hoặc xay thật nhuyễn trộn đều với lòng trắng trứng gà thành dạng cao lỏng. Mỗi tối, dùng cao thuốc này thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sau chừng 2 - 3 giờ thì dùng nước ấm rửa sạch. 

Có công dụng hoạt huyết hóa ứ, nhuận da, làm da trắng mịn, phòng chống tàn nhang và trứng cá. Để nâng cao hiệu quả, có thể thêm hoạt thạch lượng bằng hạnh nhân, một chút long não và xạ hương.

3. Trứng gà 1 quả, mật ong 1 thìa, đập vỡ trứng vào bát, đánh cho sủi bọt rồi cho mật ong vào quấy đều. Dùng nước ấm rửa mặt rồi lấy dịch thuốc thoa đều thành một màng mỏng, chờ cho khô chừng 60 phút thì dùng nước rửa sạch, mỗi tuần làm 2 lần. 

Công dụng: Dưỡng da, nhuận da. Nếu da dầu có thể cho thêm 1 thìa nước chanh. Sách Bách bệnh tự liệu diệu phương dùng bài này cho thêm 3 thìa sữa chua. Cũng có người dùng trứng gà, mật ong, bột mì và dầu thực vật làm thành bột thuốc nhão để đắp mặt dưới dạng mặt nạ.

4. Bạch cúc hoa, bạch quả, mật ong mỗi thứ 30g, nước lê, sữa tươi và rượu nếp mỗi thứ nửa cốc. Cho cúc hoa vào nước lê và rượu nếp chưng lấy nước đặc. 

Tiếp đó, giã nát bạch quả rồi hòa với dịch thuốc, mật ong và sữa tươi thành dạng cao lỏng. Mỗi tối dùng cao thuốc xoa đều lên mặt, sau khoảng 60 phút thì dùng nước ấm rửa sạch. Giúp thanh nhiệt giải độc, làm sạch trắng da và dưỡng da.

5. Bạch đinh hương, bạch cương tàm, bạch khiên ngưu, bạch tật lê, bạch cập mỗi loại 110g; bạch chỉ 75g, bạch phụ tử 18g, bạch linh 18g, tạo giác 50g, một ít bột đậu xanh. Tạo giác bỏ vỏ, tước xơ rồi đem sấy khô cùng các vị thuốc khác, tất cả tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần. 

Mỗi tối, lấy một lượng thuốc vừa đủ hòa với nước ấm rồi thoa đều lên mặt thành một màng mỏng, sau chừng 30 phút thì rửa sạch. Giúp da sáng mịn và mềm mại, phòng chống vết nhăn, tàn nhang và trứng cá.

6. Lá dâu phơi qua sương 600g, lá ngải cứu 16g, sắc lấy nước tắm hằng ngày, nếu kiên trì làm thật lâu có thể chữa  khỏi các chứng bệnh ngoài da và đau thần kinh, lại làm trắng sạch da.

7. Nếu bị tàn nhang, dùng dấm 500g, bạch truật 50g, ngâm 7 ngày rồi lấy dung dịch thoa lên mặt mỗi ngày vài lần.

8. Mỗi ngày lấy 10g rau sam khô sắc uống ba lần trước bữa ăn 30 phút. Dùng làm rau ăn cũng được, nhưng không nên ăn quá nhiều. Món này giúp làm trắng da.

9. Hạt sen, khiếm thực mỗi vị 30g, ý dĩ nhân 50g, long nhãn nhục 8g, thêm nước 500ml, sắc lửa nhỏ một tiếng đồng hồ, cho thêm lượng mật ong là ăn được. Công hiệu ích khí bổ huyết, nhuận da, tăng trắng.

 Không dùng thuốc Đông Y kết hợp với hóa chất.

10. Cúc hoa tươi 30g, cho nước vào đun sôi, sắc đặc, thêm một chút mật ong chế thành cao. Mỗi lần lấy 15g, dùng nước sôi pha quấy đều để uống. Công hiệu làm nhuận sáng da dẻ, chống suy lão.

11. Nếu da sần sùi, lấy nhân hạt ý dĩ sao khô, nghiền thành bột, ngày dùn ba lần, mỗi lần hai thìa cà phê, kiên trì hai tuần có thể làm cho da dẻ mịn màng. 

12. Mùa đông da khô, nhão, sần sùi, bạn có thể lấy 15 quả hồng táo và một ít nhân sâm, cho vào siêu đất ngâm nước nửa giờ, dùng lửa nhỏ sắc 30 phút là uống được. Loại trà dược này giúp ích khí dưỡng huyết, làm đẹp da. Lúc uống nhân sâm không nên uống trà và ăn củ cải.

13. Làm mờ tàn nhang trên da mặt bằng cách dùng lá ké non, rửa sạch, hong cho ráo hết nước, thêm chút muối ăn, giã thật nhuyễn. Hàng ngày xát nhẹ lên da mặt 2 - 3 lần; sau khi xát khoảng 10 phút thì rửa sạch. Kiên trì làm như vậy, các nốt tàn nhang sẽ mờ dần.

14. Làm mờ những vết xạm đen trên da dùng lá ké, phơi hoặc sấy khô, tán thành bột thật mịn; sau mỗi bữa cơm hòa 3g với nước cơm hoặc nước cháo uống.

15. Dùng hoàng kỳ 500g, đương quy 500g, tất cả tán thô, trộn đều. Mỗi ngày dùng 10 - 15g bột thuốc, hãm nước sôi như pha trà, uống dần trong ngày. Với những trường hợp da xạm đen do âm huyết hư tổn, để khắc phục cần sử dụng các loại thuốc có tác dụng bồi bổ khí huyết, giúp da tươi nhuận và mịn màng.

Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong muốn phải dùng đúng cách và hết sức kiên trì, không nên kết hợp với các mỹ phẩm hiện đại. 


Theo www.thuocnamviet.com


Chủ Nhật, 7 tháng 7, 2013

Chương trình: San sẻ tình thương!

Chương trình thăm và tặng quà cho gia đình ông Phan Dương Nhường Thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh, Huyện Ba Vì, Hà Nội và gia đình cụ Ngô Thị Được thôn An Thái, xã Cẩm Lĩnh, Huyện Ba Vì, Hà Nội đã diến ra thành công tốt đẹp. Xin cảm ơn chính quyền địa phương đã tiếp đón chu đáo và tạo điều kiện cho chương trình diễn ra thành công tốt đẹp. Cảm ơn Ban Đối Ngoại sbbc.vn đã ủng hộ và cùng tham gia chương trình.  Cảm ơn tất cả các thành viên trong Hội Từ Thiện Hà Nội sbbc.vn đã nhiệt tình ủng hộ và tham gia chương trình. Cám ơn tất cả các anh chị blogger xa gần đã ủng hộ và đóng góp cho chương trình.

Thăm và tặng quà cho gia đình ông Phan Dương Nhường.
Hoàn cảnh gia đình: Gà trống nuôi con. ông lam lũ làm ăn kiếm sống nuôi con, do tuổi cao sức yếu, bệnh tật nên không thể làm gì, con gái ngoài 20 tuổi nhưng sức lực có hạn và tinh thần không minh mẫn, nên phải chông trờ rất nhiều vào hàng xóm, hiện tại hai bố con không thể lao động để tạo ra thu nhập, đang rất cần những bàn tay hỗ trợ của hàng xóm, và các tổ chức từ thiện


Cả đoàn chụp ảnh lưu niệm với gia đình ông Phan Dương Nhường.


Thăm và tặng quà cho gia đình cụ Ngô Thị Được.
Gia đình Cụ Được, năm nay Cụ 87 tuổi sống cùng con trai Đặng Văn Canh 53 tuổi , Anh bị tâm thần và bại liệt từ nhỏ nên không thể tham gia lao động, gia đình chỉ chông chờ vào trợ cấp của nhà nước và hàng xóm láng riềng.


Cả đoàn chụp ảnh lưu niệm với gia đình cụ Ngô Thị Được.



Ông Chu Thừa Tiến, đại diện chính quyền địa phương gửi lời cám ơn tới đoàn cùng các nhà hảo tâm xa gần đã ủng hộ, đóng góp giúp đỡ cho hai gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa phương.



Trước khi về không quên tạo dáng trước vườn hoa nhà bí thư xã.




CHƯƠNG TRÌNH ĐÃ THÀNH CÔNG TỐT ĐẸP!

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Một số bài thuốc chữa tiểu tiện quá nhiều lần

Tất cả những trường hợp số lần tiểu tiện tăng nhiều gọi là chứng bệnh tiểu tiện quá nhiều lần. Nói chung, người lớn số lần tiểu tiện ban ngày là 4-5 lần, ban đêm 0-2 lần, mỗi lần lượng nước tiểu khoảng 300-500ml. Sinh ra tiểu tiện nhiều lần có thể là do sinh lí và bệnh lí.

Người bình thường nếu là do uống vào lượng lớn nước, ăn món canh hoặc nước luộc nhiều, mồ hôi ra ít, nhiệt độ hạ thấp, tinh thần căng thẳng gây tiểu tiện nhiều lần thì đó là tiểu tiện có tính sinh lí. Còn tiểu tiện nhiều lần có tính bệnh lí bao gồm các loại cảm nhiễm ở đường niệu, sỏi ở đường niệu, tiền liệt tuyến phì đại, v.v... chủ yếu vì chứng viêm hoặc những dị vật kích thích nén ép đường niệu, buộc cơ ở đường niệu thu co gây nên tiểu tiện nhiều lần. Ngoài ra, một số bệnh có tính toàn thân cũng có thể vì lượng nước tiểu tăng nhiều gây tiểu tiện nhiều lần, như bệnh tiểu đường, cường năng tuyến giáp, thận mạn tính, bệnh máu thấp potassium, băng niệu, v.v… Sử dụng một số thuốc cũng có thể gây tiểu tiện nhiều lần.
Đông y cho rằng những người tiểu tiện nhiều lần, mót tiểu tiện gấp, đau khi tiểu tiện, mỗi lần tiểu tiện lượng nước ít, nhưng một ngày lượng tiểu tiện bình thường thuộc lâm chứng (chứng bệnh tiểu tiện không thông thoát, phải rặn nhiều và đau buốt). Còn tiểu tiện nhiều lần có kèm theo một ngày lượng nước tiểu tăng nhiều thuộc tiêu khát. Trường hợp trước thường vì bàng quang bị thấp nhiệt, can uất khí trệ, tì thận lưỡng hư làm cho bàng quang khí hoá bất lợi gây nên. Trường hợp sau chủ yếu vì phế thận âm hư táo nhiệt gây nên. Ngoài ra, những người già bình thường do thận khí không chắc cũng có thể gây nên tiểu tiện đêm nhiều lần, đó vẫn thuộc hiện tượng bình thường.
Đối với chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần, nguyên tắc ăn uống phải:
1. Người bệnh tiểu tiện nhiều lần do lâm chứng, ăn uống cần phải thanh lương thông lợi là chính, ăn các thức ăn như bí xanh (bí đao), dưa hấu, đỗ đỏ, đỗ xanh, tể thái, măng tre, v.v…
2. Người bệnh lâm chứng cần kiêng ăn thức ăn nhiều dầu mỡ, các thức ăn có tính kích thích, cay.
3. Người bệnh lâm chứng thuộc tì thận lưỡng hư, có thể ăn một số thức ăn thanh bổ như hạt sen, sơn tra, khoai tây, quả nhãn, thịt gà, cá, các loại quả, trứng, v.v...
4. Người bệnh lâm chứng ngày thường còn cần uống nhiều nước sôi để nguội hoặc nước trà.
5. Người bệnh tiêu khát, lượng nước tiểu mỗi lần nhiều, cần khống chế ăn uống, ăn ít những thức ăn nhiệt lượng cao, nhiều đường, nhiều mỡ, loại tinh bột như gạo, bột mì, v.v… cũng cần khống chế thích đáng.
6. Người bệnh tiêu khát, thường ngày có thể ăn nhiều một số thức ăn thuộc prô-tê-in thực vật, prô-tê-in động vật, các loại rau quả củ như đậu, chế phẩm của đậu, ngô, trứng, thịt nạc, cá, thịt gà, các loại rau có màu xanh, v.v…
7. Người bệnh tiêu khát cần kiêng hút thuốc lá và uống rượu.
Một số bài thuốc chữa bệnh tiểu tiện nhiều lần hiệu nghiệm:
Bài 1: Giá đỗ xanh 500gam, đường trắng 50gam, đem luộc giá đỗ xanh chín kĩ lấy nước, pha đường trắng uống nhiều lần trong ngày, chữa chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu ngắn, rít, ra dầm dề không dứt.
Bài 2: Cù mạch 30gam, hạt kê 50gam. Nấu cù mạch lấy nước thuốc, sau đó cho hạt kê vào nấu thành cháo để ăn ngày hai lần. Thích hợp chữa cảm nhiễm ở đường niệu gây nên tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu ngắn, rít đau.
Bài 3: Dạ dày lợn làm sạch 500gam, gạo tẻ 100gam. Luộc dạ dày lợn cho chín tới 5/10, vớt ra thái thành sợi nhỏ, cho vào nồi cùng với gạo nấu thành cháo, khi chín dừ, ngày ăn hai lần. Thích dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, tiêu khát, người thiểu lực.
Bài 4: Khiếm thực 20gam, hạt hướng dương 50gam. Giã nát hạt hướng dương, trộn với khiếm thực nấu thành canh để ăn. Thích dụng chữa tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu trắng đục như nước vo gạo, hoặc có kèm theo thắt lưng và chân đau mỏi, mềm yếu.
Bài 5: Râu ngô tươi mới 30gam, kim tiền thảo lá to 30gam, nấu lấy nước uống thay nước trà trong ngày. Thích dụng chữa chứng bệnh sỏi ở đường niệu nên tiểu tiện nhiều lần, đau khi tiểu tiện, có khi tiểu tiện ra cả sỏi.
Bài 6: Mề gà 2 cái, đỗ đỏ 50gam. Nấu chín đỗ đỏ tới 5/10, sau đó cho mề gà đã làm sạch thái miếng vào nấu tiếp cho chín dừ để ăn ngày một lần. Thích dụng chữa bệnh tiểu tiện nhiều lần, mót tiểu tiện gấp, sỏi ở đường niệu.
Bài 7: Thận lợn 2 quả, hạch đào nhân 30gam, đỗ trọng 15gam; làm sạch thận lợn thái miếng cùng đỗ trọng cho vào nồi nấu với hạch đào và chút nước cho chín dừ để ăn. Thích dụng với chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu trong, dài; liệt dương, sợ lạnh.
Bài 8: Bạch quả 5 quả, hạt quả bí đao (bí xanh) 30gam, nấu lấy nước uống, ngày một lần. Thích dụng chữa chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần.
Bài 9: Thịt ba ba 1 con, gừng sống, muối gia vị vừa phải, hấp chín để ăn. Thích dụng chữa chứng bệnh tiêu khát, tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu dài, lòng bàn tay bàn chân nóng.
Bài 10: Sinh địa hoàng 30gam, trứng gà một quả, muối lượng vừa đủ. Nấu sinh địa hoàng lấy nước thuốc, sau đó đập trứng gà vào khuấy đều, cho muối vào hấp cách thủy thành canh trứng để ăn. Thích dụng chữa bệnh tiêu khát, miệng khô, thắt lưng mỏi, tiểu tiện nhiều lần.
Bài 11: Cẩu khởi tử 15gam, rửa sạch nấu lấy nước uống ngày hai lần. Thích dụng chữa chứng bệnh tiểu tiện nhiều lần do tiêu khát, thắt lưng mỏi nhừ, mềm yếu, tai ù.
Theo: www.thuocnamviet.com

Chữa Hôi Nách

Thuốc chữa hôi nách không khó tìm. Nhưng cái chính cần quan tâm là thuốc chữa hôi nách đó có thật sự hiệu quả và thuốc chữa hôi nách hiệu quả trong thời gian bao lâu? Nếu bạn mới bị bệnh hôi nách thì bạn có thể áp dụng 1 trong những cách bên dưới đây.




Bệnh Hôi nách là bệnh thường gặp ở cả nam và nữ nhưng tỷ lệ nữ giới mắc bệnh thường cao hơn. Đây không phải là một bệnh truyền nhiễm nên không lây qua các tiếp xúc thông thường mà chủ yếu là tuyến mồ hôi trên cơ thể và yếu tố di truyền

Chữa hôi nách bằng bài thuốc dân gian


  1. Trị hôi nách bằng dấm: Dấm gạo 100g trộn lẫn với 5g bột hồi, trộn đều tay. Sau đó, bôi lên phần da dưới nách.
  2. Trị hôi nách bằng Hạt tiêu kết hợp rượu: Cho 50 g bột hạt tiêu xay tươi, cho vào 300 ml rượi, ngâm trong vòng 15 ngày. Sau đó, vệ sinh sạch sẽ vùng nách, và bôi hỗn hợp rượu và hạt tiêu vào dưới vùng nách, có thể thấy ngay hiệu quả, ngày làm hai lần sáng tối.
  3. Gừng tươi trị hôi nách: Gừng tươi rửa sạch, giã nhuyễn, sau đó lấy vải sạch vắt lấy nước, bỏ bã. Dùng nước gừng nguyên chất bôi vào nách, một ngày vài lượt.
  4. Trị hôi nách bằng hạt nhãn và hạt tiêu: Lấy 50 hạt hạt tiêu, 20 hạt nhãn sau trộn lẫn, xay nhuyễn thành bột, sau đó đắp vào dưới nách, có tác dụng hạn chế bệnh hôi nách.
  5. Chữa hôi nách bằng phèn chua: Cho 50g phèn chua vào trứng, dùng lửa nhỏ hơ đến khi phèn chảy nước, rồi đợi phèn cứng lại, rồi giã nhuyễn thành bột, bôi vào nách, ngày 2 lần, có tác dụng giảm nhẹ, điều trị kiên trì có thể chữa khỏi bệnh hôi nách.
  6. Chữa hôi nách bằng củ Từ: Củ Từ tươi, cắt thành lát đắp dưới nách, mỗi ngày làm từ 1-2 lượt, có thể trị hôi nách.
  7. Lá ngải kết hợp với phèn trị bệnh hôi nách: Lấy 20 g lá ngải phơi khô, giã nhỏ, đảo đều với 20 g bột phèn chua, và 200 g muối tinh, bắc lên bếp đảo nóng, sau đó đổ hỗn hợp vào túi vải, rồi kẹp ở dưới nách 5 phút, có tác dụng loại trừ bệnh hôi nách, áp dụng sau 1 tháng là có kết quả.
  8. Trị hôi nách bằng Cà chua: Ép sinh tố 1 quả cà chua, nách vệ sinh sạch sẽ, đổ nước cà chua ép vào trong bồn rửa mặt đã được làm sạch, sau đó xả nước ấm ngập 2/3 bồn. Dùng hỗn hợp nước cà chua ở bồn lau đi lau lại nách trong vòng 30 phút, mỗi tuần áp dụng từ 2, 3 lần.



Người mắc bệnh hôi nách, thường không tự tin, dễ căng thẳng, là mối trở ngại lớn trong giao tiếp xã hội, chúng tôi khuyên các bạn nên chữa trị kịp thời, nếu không sẽ là mối nguy lớn cho bạn đấy.
Với phương pháp sử dụng bài thuốc dân gian ở trên chỉ có hiệu quả trong thời gian ngắn và với những người mới bị bệnh hôi nách. Không thật sự chữa trị hôi nách hiệu quả. Để chữa trị dứt điểm hôi nách bạn cần sử dụng các loại thuốc uống, thuốc bôi, tiêm Botulium, điều trị lasze, tiểu phẫu hút bỏ nội soi tuyến mồ hôi nách. Các phương pháp thông thường chỉ có tác dụng diệt vi khuẩn, giảm sự tiết mồ hôi nên thường không cho hiệu quả lâu dài. Để loại bỏ triệt để mùi mồ hôi dưới cánh tay cần thực hiện thủ thuật tiểu phâũ loại bỏ tuyến mồ hôi lớn, phương pháp này đem lại hiệu quả trên 90%, không gây đau đớn, người bệnh không cần nằm viện mà có thể ở nhà ngay

Phương pháp chữa trị hôi nách hiệu quả
Hiện nay Phòng khám đa khoa Thiên Tâm đã phát triển kĩ thuật xâm lấn tối thiểu nhằm giúp bệnh nhân loại bỏ triệt để mùi hôi dưới cánh tay. Sau tiểu phẫu vết thương rất nhỏ, sẹo mờ gần như không nhìn thấy, đã khắc phục được hầu hết nhược điểm của phương pháp truyền thống. Trong suốt quá trình tiểu phẫu bệnh nhân được gây tê cục bộ nên sẽ không có cảm giác đau đớn gì, thủ thuật đơn giản diễn ra trong vòng 20-30 phút là xong, người bệnh có thể hoạt động bình thường. Đây được coi là sự lựa chọn lý tưởng đối với những người bệnh hôi nách có tình trạng bệnh khá nặng và mắc bệnh trong thời gian khá dài.

Trên đây là những giới thiệu cơ bản của các chuyên gia trị hôi nách hy vọng sẽ cung cấp cho bạn thông tin hữu ích

Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH BÊN TRONG (THẤT TÌNH)



1. Bảy thứ tình chí gây ra do những rối loạn về tâm lý, tình cảm.
Đó là: Vui, giận, buồn, nghĩ, lo, kinh sợ.
2. Tình chí bị kích độnghay những sang chấn tinh thần gây ra mất thăng bằng về âm dương, khí huyết, tạng phủ, kinh lạc mà gây ra các bệnh nội thương như cao huyết áp, suy nhược thần kinh, loét dạ dày, tá tràng…..
3. Thất tình và tạng phủ có liên quan mật thiết.
- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hoá ra thất tình, can sinh ra giận giữ, tâm sinh ra vui mừng, tỳ sinh ra suy nghĩ, phế sinh ra lo lắng, thận sinh ra kinh sợ.
- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của phủ tạng: Giận hai can, vui quá hại tâm, nghĩ hại tỳ, lo hại phế, sợ hại thận. Đặc biệt thất tình làm ảnh hưởng tới khí của phủ tạng; giận làm khí thăng ( cáu gắt). Vui thì kí hoãn, buồn thì khí tiêu, sợ thì khí hạ.
4. Thất tình đặc biệt hay gây các chưúng bệnh cho 3 tạng: Tâm, can, tỳ
 Tâm: Kính quý, chính xung, mất ngủ, hay quên, tinh thần không ổn định, hoang tưởng, cười nói luyên thuyên, thao cuồng, điên cuồng….
 Can: Tinh thần uất ức, hay cáu gắt, mạng sườn đầy tức, phụ nữ đau vú, kinh nguyệt không đều, thống kinh.
 Tỳ: Ăn uống kém, không muốn ăn, bụng đầy, đại tiện thất thường, phụ nữ bế kinh, phong huyết….
- Gây sốt: Sốt cao, phiền táo, mặt đỏ, nước tiểu đỏ, khát họng, họng đỏ sưng đau.
- Gây viêm nhiệt ở phần trên: Như tâm hoả gây loét lưỡi: Vị hoả gây sưng lợi, can hoả gây mắt đỏ, sưng đau.
b) Hoả hay dốt tân dịch: Gây khát nước, miệng  khô,lưỡi khô, táo, nặng có thể nói mê sảng, hôn mê.
c) Hoả hay gây chảy máu ( bức huyết vong hành), phát ban do nhiệt, làm tổn thương mạch lạc như lôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm.

Theo: Tài Liệu Y Học Cổ Truyền

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH BÊN NGOÀI (LỤC DÂM, LỤC TÀ)




- Sáu thứ khí: phong (gió), hàn (lạnh), thử (nắng), thấp (độ ẩm), táo (độ khô), hoả (nhiệt), khi trở thành nguyên nhân gây bệnh gọi là lục dâm, lục tà.
 - Gây ra những bệng ngoại cảm (bệnh do bên ngoài đưa tới) như bệnh nhiễm trùng, truyền nhiễm, đau dây thần kinh ngoại biên do lạnh…
 - Luôn luôn quan hệ với thời tiết: phong: mùa xuân, hàn: mùa đông, thử: mùa hè, táo: màu thu.
 - Sau thứ khí hay phối hợp với nhau, mà phong hay xuất hiện hơn cả, làm bệnh có tính chất đa dạng như phong hàn, phong nhiệt, phong thấp…
 - Cần phân biệt chứng phong, hàn, thấp, táo, hoả do lục khí gây ra (ngoại phong, ngoại hàn, ngoại thấp, ngoại táo, ngoại hoả) với các chứng phong hàn,  thấp, táo, hoả do trong cơ thể sinh ra (nội phong, nội hàn, nội thấp, nội táo, nội nhiệt).
1. Phong
          Phong có hai loại: ngoại phong là gió, chủ khí về xuân nhưng màu nào cũng gây bệnh, hay phối hợp với các khí khác: hàn, thấp, nhiệt thành phong hàn, phong thấp, phong nhiệt. Nội phong sinh ra do công năng của tạng can bất thường (can phong) xuất hiện các chứng: co giật, chóng mặt, hoa mắt…
1.1.  Đặc tính của phong
- Phong là dương tà hay đi lên và ra ngoài, nên hay gây bệnh ở phần trên của cơ thể (đầu, mặt),và ở phần ngoài (cơ biểu) làm da lông khai tiết: ra mồ hôi, sịư gió, mạch phù…
- Phong hay di động và biến hoá: bệnh do  phong hay di chuyển như đau các khớp, đau chỗ này chỗ khá, ngứa nhiều chỗ lên gọi là “phong động” biến hoá bệnh nặng, nhẹ mau lẹ.
1.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do phong
a. Phong hàn
 - Cảm mạo do lạnh: ngạt mũi, chảy nước mũi, sợ lạnh, sợ gió, mạch phù.
 - Đau dây thần kinh ngoại biên, đau các khớp do lạnh.
 - Ban chẩn dị ứng, viêm mũi dị ứng do lạnh.
b. Phong nhiệt
 - Cảm mạo có sốt, giai đoạn đầu các bệnh truyền nhiễm: sốt, sợ gió, không sợ lạnh, họng đau đỏ, nước tiểu vàng, chất lưỡi và rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
 - Viêm màng tiếp hợp theo mùa, dị ứng.
 - Viêm khớp cấp.
c. Phong thấp
 - Viêm khớp dạng thấp, thoái khớp.
 - Đau các dây thần kinh ngoại biên.
1.3. Chứng nội phong (can phong)
 Do can khí thực kích động đến cân hay do can huyết hư không nuôi dưỡng cân:
  - Sốt cao co giật
  - Bệnh cao huyết áp do can thận âm hư làm can dương nôi lên gây nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt…
  - Các tai biến mạch máu não do nhũn não, chảy máu não do can huyết hư gây các chứng: liệt nửa người, chân tay co quắp…
2. Hàn
     Hàn có hai loại: ngoại hàn do lạnh, chủ khí về mùa đông gây ra bệnh ở cơ thể bằng 2 cách: thương hàn là hàn phạm vào phần cơ biểu bên ngoài, trúng hàn là hàn trực trúng vào tạng phủ. Nội hàn là do dương khí của cơ thể kém làm các cơ năng giảm sút gây ra bệnh.
2.1. Đặc tính của hàn
  - Hàn là âm tà hay tổn thương dương khí: như hàn phạm vào da cơ, vệ khí bị yếu gây cảm mạo, hàm phạm vào tỳ vị làm tỳ dương hư không vận hoá được đồ ăn gây ỉa chảy, tay chân lạnh.
 - Hàn hay ngừng trệ, hay gây đau tại chỗ: hàn xâm phạm vào cơ thể gây khi huyết ứ trệ, không thôn gây đâu như đau dạ dày do trời lạnh, cước làm xung huyết gây đau.
 - Hàn hay gây co rút,  làm bế tắc lại, như lạnh gây co cứng cơ, đau vay gáy, đau lưng, viêm đại tràng co thắt do lạnh, chuột rút các cơ do lạnh…
2.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do hàn
          - Phong hàn: đã trình bày ở phần phong
          - Hàn thấp: đi ỉa chảy, nôn mửa, đau bụng do lạnh.
2.3. Chứng nội hàn: Thường do dương hư
a. Tâm phế dương
 - Chứng tắc động mạch vành, mùa lạnh hay gặp.
 - Hen kèm với những triệu chứng dương hư, vì thận dương hư không nạp phế khí.
b. Tỳ vị hư hàn
  Ăn kém, đầy bụng, sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, mạch trầm trì, trầm nhược.
c. Thận dương hư
          Người già sợ lạnh, tay chân lạnh, ỉa chảy, tiểu tiện nhiều lần…
          Chứng nội hàn do dương khí kèm, thì vệ khí cũng kém hay gây cho người ta dễ dàng bị cảm lạnh.
3. Thử (nắng), chủ khí về mùa hè
3.1 Đặc tính của thử
          - Thử là dương tà hay gây sốt và hiện tượng viêm nhiệt, khát, mạch hồng, ra mồ hôi.
          - Thử hay đi lên trên, tản ra ngoài (thăng tán) làm mất tân dịch: gây ra mồ hôi nhiều, mất nước và điện giải có thể gây hôn mê, truỵ mạch.
          - Hay phối hợp với thấp lúc cuối hạ sang thu gây ra các chứng ỉa chảy, lỵ.
3.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do thử
a. Thử nhiệt:nhẹ gọi là thương thử, nặng gọi là trúng thử.
          - Thương thử: sốt về mùa hè, vật vã, khát, mỏi mệt.
-  Trúng thử: Say nắng: nhẹ thì hoa  mắt chóng mặt, nặng thì đột nhiên hôn mê, bất tỉnh nhân sự, khò khè ra mồ hôi lạnh, chân tay quyết lạnh.
b) Thử thấp: Đi ỉa chảy về cuối mùa hè, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng.
4. Thấp( Độ ẩm thấp)
Thấp gồm hai loại: Ngoại thấp, độ thấp chủ khí về cuối mùa hạ, hay gặp ở nơi ẩm thấp, và những người làm việc ở nơi thấp, nội thất di tỳ hư vận hoá giảm sút, tân dịch đình lại gây thấp.
4.1. Đặc tính của thấp.
- Thấp hay gây ra chứng nặng nề như đau khớp chân tay mình mẩy nặng nề, cảm mạo do cảm lạnh kèm thêm thấy mỏi nhừ toàn thân.
- Hay bài tiết ra các chất đục ( thấp trọc), như đại tiện lỏng, nước tiểu đục, chảy nước dục trong bệnh chàm.
- Thấp hay gần dính, nhớt: miệng dính nhớt, tiểu tiện khó ( sáp) khi gây bệnh khó trừ được nên hay tái phát như phong thấp.
- Thấp là âm tà hay làm tổn thương dương khí, gây trở ngại cho khí vận hành.
- Thấp làm dương khí của tỳ vị bị giảm sút, ảnh hưỏng đến sự vận hoá thuỷ thấp gây chứng phù thũng, ảnh hưởng đến vận hoá dồ ăn gây cá chứng bệnh về tiêu hoá như nhạt miệng, ăn kém, đầy bụng, ỉa chảy, mót rặn.
4.2. Các chứng bệnh hay gặp do phong thấp.
- Phong thấp: Đã nêu ở phần phong.
- Hàn thấp: Đã nêu ở phần hàn.
- Thấp chẩn: Bệnh chàm.
- Thấp nhiệt: Gồm tất cả các bệnh nhiễm trùng ở đường tiết liệu sinh fục và tiêu hoá, như viêm gan, viêm đường dẫn mật, lỵ, ỉa chảy nhiễm trùng, viêm phần phụ, viêm niệu đạo âm đạo, viêm bàng quang…
4.3. Chứng nội thấp (Do tỳ hư không vậm hoá được thuỷ thấp).
Ở thương tiêu: Đầu nặng, hoa mắt, tức ngực, chậm  tiêu, miệng dính, ỉa chảy, chân tay nặng nề, mệt.
Ở hai tiêu: Phù ở chân, nước tiêut ít, đục, phụ nữ ra khí hư ( đới hạ).
5. Táo
Táo có hai loại: Ngoại táo là độ khô chủ khí về mùa thu, xâm nhập bắt đầu từ mũi, miệng, phế và vị khí vào bên trong cơ thể chia làm hai thể: ôn táo và lương táo, nội táo do tân dịch, khí, huyết áp giẩm sốt gây ra bệnh.
5.1. Đặc tính của táo.
Tính khô hay làm tổn thương tân dịch: Mũi khô, họng  khô, da khô, đại tiện táo, nước tiểu ít, ho khan ít đờm.
5.2. Các chứng bệnh hay xuất hiện do táo.
Lương táo: Sốt, sợ lạnh, đau đầu không có mồ hôi, họng khô, ho đờm ít hay gặp do chứng cảm mạo do lạnh về mùa thu.
Ôn táo: Sốt cao, ít sợ lạnh, đau đầu, đau ngực, mũi khô, miệng khát, tâm phiền, đầu lưỡi đỏ, hay gây chứng mất tân dịch và điện giải ( Âm hư, huyết nhiệt) dễ gây biến chứng nhiễm độc thần kinh và vận mạch: Nói làm nhảm, vật vã, hôn mê, suất huyết, viêm não…..
5.3. Chứng nội táo.
Do bẩn tố tạng nhiệt, dùng quá lâu ngày thuốc đắng, thuốc hạ, bệnh sốt cao kéo dài lâu ngày làm tân dịch bị hao tổn, gây ra các chứng khát, da, tóc lông khô, táo gầy…..
6. Hoả.
Hoả và nhiệt giống nhau là một khí trong lục dâm, như các khí khác như phong, thấp, hàn, táo cũng có thể hoá hoả, ngoài ra các tạng phủ, tình chí cũng biến hoả, như can hoả, tâm hoả, đờm hoả….
Cần phân biệt chứng hư hoả ( hư nhiệt) với chứng hoả do bên ngoài đưa tới ( thực nhiệt).
6.1. Đặc tính của hoả
a) Hoả hay gây sốt và chứng viêm nhiệt.
- Gây sốt: Sốt cao, phiền táo, mặt đỏ nước tiểu đỏ, khát họng đỏ sưng đau.
- Gây viêm nhiệt ở phần trên: Như tâm hoả gây loét lưỡi; vị hoả gây sưng lợi, can hoả gây mắt đỏ, sưng đau.
b) Hoả hay đốt tân dịch: Gây khát nước, miệng khô, lưỡi khô, táo, nặng có thể nói mê sảng, hôn mê.
c) Hoả hay gây chảy máu ( bức huyết vong hành), phát ban do nhiệt, làm tổn thương mạch lạc như nôn ra máu, chảy máu cam, đại tiện ra máu, tiểu tiện ra máu, ban chẩn trong các bệnh truyền nhiễm.
6.2.Các chứng bệnh hay xuất huyết do hoả.
a) Hoả độc, nhiệt độc.
- Hay gây ra các bệnh nhiễm trùng: Mụn, nhọt, viêm họng, viêm phổi…
- Gây các bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát không có hoặc có biến chứng gây mất nước, nhiễm độc thần kinh, chảy máu, mặt đỏ, sợ nóng, khát, táo, tiểu tiện ít đỏ, rêu lưỡi vàng dầy, chất lưỡi đỏ giáng, mạch nhanh, có thể thấy mê sảng, hôn mê hoặc nôn ra máu, chảy náu cam…
b) Thấp nhiệt
c) Phong nhiệt
d) Táo nhiệt                   Đã trình bày ở các phần: Phong, thấp, táo, thử.
e) Thử nhiệt
6.3. Chứng hư nhiệt: Do âm hư sinh nội nhiệt: Gò má đỏ, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt, nhức xương, ra mồ hôi trộm, ho khan, họng khô, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc không có rêu.

 Tài liệu Y Học Cổ Truyền

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO


Bệnh mạch máu não cấp cũng gọi là TBMMN là một chứng bệnh cấp tính thường gặp ở người trung niên và cao tuổi. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của bệnh là: phát hiện đột ngột, hôn mê và bán thân bất toại.
Bệnh có thể chia làm 2 loại:
- Xuất huyết não: bao gồm chảy máu não và chảy máu dưới màng cứng.
- Nhũn não: bao gồm sự hình thành huyết khối và sự tắc nghẽn mạch máu.
Trừ thể xuất huyết dưới màng cứng, sách Y học cổ truyền Đông phương gọi một tên chung là chứng “TRÚNG PHONG”.
Nhận thức của Đông y đối với bệnh tai biến mạch máu não:
Đông y đã có nhận thức sớm về bệnh này. Cách đây hơn 2000 năm, trong trước tác đông y như “Linh khu” đã ghi các chứng “Kích bộc” “Thiên khô” “Phong phì” có các triệu chứng ghi như: đột nhiên hôn bộc, một nửa người không cử động tự chủ. Và chứng “Đại quyết” trong sách Tố Vấn ghi về cơ chế bệnh là do khí huyết cùng thượng nghịch, và nói đến tiên lượng bệnh là “Khi hồi phục (phản phục) được là sống, còn không phản phục được là chết”. Sách “Kim quỹ yếu lược” của Trương Trọng Cảnh đời Hán mệnh danh là chứng “Trúng phong” và mô tả các triệu chứng của trúng phong như sau: bán thân bất toại, mồm méo, nói khó, nặng thì bất tỉnh nhân sự, sách đời Đường (701-704) và đời Tống (973-1093) nhận thức về nguyên nhân bệnh là do tích tuổi hư tổn. Y gia các thời đại sau bổ sung thêm nhiều luận thuyết về nguyên nhân như Lưu Hà Gian cho là do “hỏa”, Lý Đông Viên cho là “lý hư”, Chu Đan Khê cho là “đàm nhiệt”. Các học gia sau này như Trương Giới Tân (đời Minh) Diệp Thiên Sỹ (đời Thanh) đều cho rằng là do “nội thương” “tích tổn” mà thành chứ không phải do phong tà bên ngoài xâm nhập cơ thể.
Về tạng phủ mắc bệnh, các học giả Đông y đều cho rằng sách “Nội kinh” nói: “Đại nộ tắc hình khí tuyệt mà huyết tràn lên trên”, và “huyết khí cùng thượng nghịch”, phía trên là chỉ não là một trong những phủ kỳ hằng, là bể của tủy, khí của não, là thông với thận. Ngoài mặt nhận thức bệnh biến là ở não, đông y cũng nhận thức bệnh có liên quan đến nhiều tạng phủ khác như Can, Thận, Tâm, Tỳ, Vị …
Còn việc phân loại “trúng kinh lạc” và “trúng tạng phủ” cũng chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng nặng nhẹ mà phân loại: nhẹ là trúng kinh lạc, nặng là trúng tạng phủ.
Triệu chứng trúng kinh lạc thường là: chân tay tê dại, mồm méo, hoặc nói khó, bán thân bất toại nhưng không có hôn mê.
Triệu chứng trúng tạng phủ thì bệnh nặng mê man hoặc hôn mê bất tỉnh, các triệu chứng lâm sàng nặng hơn.
Kết hợp với nhận thức của YHHĐ, trước tiên cần xác định là chứng trúng phong do xuất huyết não hay do nhũn não, nếu do xuất huyết não thì dùng phép “thanh nhiệt thông phủ bình can” tức phong hoạt huyết chỉ huyết là chính, còn nếu là nhũn não phép chữa chủ yếu là “ích khí hóa ứ” dưỡng âm hoạt huyết là chính. Đông y còn cho rằng “trúng phong” là chứng bệnh dẫn đầu trong 4 loại bệnh lớn nội khoa và gắn triệu chứng bệnh với các tạng phủ cùng tiên lượng bệnh như sau: “mồm há, tay buông thõng là Tỳ tuyệt, mắt nhắm là Can tuyệt, hôn mê bất tỉnh, mũi phập phồng là Phế tuyệt, đái dầm là Thận tuyệt, lưỡi ngắn không nói được là Tâm tuyệt, nấc cụt không dứt là bị Khí tuyệt”.
Theo số liệu thống kê của Trung Quốc, gần đây phát hiện số bệnh nhân 30 - 40 tuổi là không ít nhưng số trên 50 tuổi vẫn nhiều, chiếm trên 60%. Báo cáo của Hoàng Bỉnh Sơn năm 1986, trong số 600 b/n TBMMN, số bệnh nhân trên 41 tuổi chiếm 96,2%. Điều này nói rõ là thể chất con người trên 40 tuổi thường chuyển từ thịnh sang suy và TBMMN thường liên quan đến các bệnh mà người trên 40 hay mắc như xơ mỡ mạch, cao huyết áp, bệnh tim, tiểu đường, bệnh béo phì … mà các bệnh này thường là “hư chứng” hoặc trong hư kiêm thực chứng là phù hợp với nhận thức của YHCT đã ghi trong sách “Nội kinh”: “Người 40 là khí âm còn một nửa, đứng ngồi yếu”. Do đó càng thấy rõ TBMMN là một bệnh nội thương mà bản chất bệnh là hư chứng. Những tác động bên ngoài như thời tiết thay đổi đột ngột hoặc những kích động tâm thần đột ngột (stress) làm cho Can phong nội động, khí huyết nghịch loạn, hoặc uống rượu nhiều, ăn nhiều chất béo mỡ gây tích trệ tại tỳ vị, tích cũng hóa nhiệt gây phong động, nói lên bệnh bản chất hư nhưng thường kiêm phong, đàm, nhiệt, ứ là vì vậy.
A- XUẤT HUYẾT NÃO: (Hémorragie cerébrate cerebral hemorrohage).
Não xuất huyết là do thành động mạch não bị bể và máu chảy vào tổ chức não sinh bệnh. Bệnh thường gặp ở tuổi trên 50 có huyết áp cao hoặc xơ cứng động mạch. Nam nhiều hơn nữ. Bệnh khởi phát đột ngột, triệu chứng lâm sàng chủ yếu là hôn mê, liệt tay chân, méo mồm.
1- Triệu chứng lâm sàng:
Xuất huyết não thường xảy ra trong lúc bệnh nhân đang tỉnh táo, thường có liên quan đến trạng thái tinh thần bị kích động đột ngột (trạng thái quá tức giận, quá lo lắng, quá vui, quá buồn đau hoặc dùng lực quá mạnh làm cho huyết áp tăng đột ngột gây nên).
a- Giai đoạn cấp diễn:
- Bệnh nhân đau đầu đột ngột, chóng mặt, buồn nôn, nôn, một bên người yếu hoặc liệt, ý thức lú lẫn dần dần đến hôn mê, sắc mặt nóng đỏ, cổ gáy cứng, mồm méo, liệt mặt, chảy nước dãi, thở nặng sâu, cổ khò khè, bụng đầy táo bón. Phần lớn bệnh nhân sốt, huyết áp cao, mặt lưỡi nhiều ứ huyết, dưới lưỡi nổi gân xanh, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng nhớt hoặc vàng khô, mạch huyền sắc đại.
- Bệnh nhẹ thì lúc tỉnh lúc mê, thân lưỡi cứng nói không rõ tiếng, bán thân bất toại, tay chân run giật.
- Bệnh nặng thì hôn mê sâu, sắc mặt tái nhợt, chân tay liệt mềm, mình mẩy lạnh ướt, hơi thở ngắn nhanh hoặc ngắt quãng, huyết áp hạ, đồng tử giãn, phản xạ ánh sáng chậm hoặc mất hẳn, tiêu tiểu không tự chủ, mạch hư đại vô căn.
- Đối với những người có bệnh huyết áp cao, tiểu đường, bệnh tim, xơ cứng động mạch não, béo phì thường có những triệu chứng báo trước như đau cổ đầu, chóng mặt, tay chân tê dại, chảy máu cam, xuất huyết võng mạc mắt.
b- Giai đoạn hồi phục:
Sau một thời gian hôn mê từ mấy ngày đến mấy tuần thì bệnh nhân trở lại tỉnh táo, có thể nuốt và uống nước được, hơi thở ổn định, sức khỏe chung tốt dần, chân tay liệt có cử động hồi phục dần.
c- Giai đoạn di chứng:
Thường sau trên 6 tháng mắc bệnh, tình hình hồi phục chậm lại và để lại những di chứng mức độ khác nhau như liệt chi, chân tay cơ bắp teo gầy, run giật và đau nhức, trí lực giảm sút hoặc đần độn.
2- Chẩn đoán bệnh: Dựa vào các tiêu chuẩn sau:
a- Tuổi trên 40, bệnh phát đột ngột.
b- Có những triệu chứng: hôn mê, liệt nửa người, méo mồm.
c- Có tiền sử huyết áp cao.
d- Áp lực nước não tủy tăng, xét nghiệm nước não tủy có máu đỏ (nếu lâm sàng đủ để xác định chẩn đoán, không cần chọc nước não tủy).
e- Nếu có điều kiện làm siêu âm sọ não, làm điện não đồ, chụp mạch não, chụp cắt lớp não (CT) để xác định chẩn đoán.
3- Phân tích về nguyên nhân và cơ thể bệnh theo YHCT:
Bệnh xuất huyết não phát bệnh đột ngột nhưng hình thành bệnh là một quá trình. Theo YHCT, sự hình thành bệnh có liên quan đến các yếu tố bệnh lý sau:
a- Phong: tức “Can phong”, lâm sàng có triệu chứng hoa mắt váng đầu, chân tay run giật do can thận âm hư, thủy không dưỡng mộc, can dương thịnh hóa phong => sinh bệnh. Ngoài ra, tình chí u uất hóa hỏa, đặc biệt lao tâm suy nghĩ nhiều, tâm hỏa thịnh, hoặc giận dữ kích động can hỏa, hoặc ăn uống nhiều chất béo, mỡ tích trệ hóa đều dẫn đến Can phong nội động.
b- Hỏa: Can dương thịnh, trường vị nhiệt kết thường biểu hiện mặt đỏ, bứt rứt dễ cáu gắt, đại tiện táo kết.
c- Đàm: Thường do thích ăn nhiều chất béo mỡ hoặc nghiện rượu, tỳ vị tích trệ, tân dịch tích tụ sinh đàm, hoặc uất giận ưu tư nhiều quá khí trệ sinh đờm cũng là nguyên nhân thường gặp. Trên lâm sàng biểu hiện ngực tức buồn nôn, khạc ra đờm dãi, thân mình hoặc tay chân tê dại hoặc có những cơn hoa mắt váng đầu.
d- Ứ huyết: Nguyên nhân huyết ứ thường là do khí trệ, ngoài ra âm hư huyết ít, khí hư vận hóa suy giảm cũng gây nên huyết ứ.
Thực ra 4 yếu tố gây nguy cơ tai biến xuất huyết não trên đây đều có liên quan ảnh hưởng lẫn nhau và là nguyên nhân của nhau.
Bệnh xuất huyết não là một bệnh mang tính chất khí hư tà khí thực mà trong giai đoạn cấp biểu hiện chủ yếu là tà thực, nhưng do chính khí vốn hư nên tà khí dễ làm hao tổn nguyên khí → dễ dẫn đến tử vong trong trạng thái hư thoát (dương hư, âm hư hoặc khí âm hư, âm dương đều hư). Đến thời kỳ hồi phục và giai đoạn di chứng thì tà khí đã bị đẩy lùi (nhờ các biện pháp cấp cứu và chính khí thắng tà khí) nhưng chính khí hư tổn là chính chủ yếu là khí âm hư mà huyết ứ vẫn còn tồn đọng tại kinh mạch, cho nên trong điều trị biện chứng cần lưu ý:
4- Biện chứng luận trị:
Biện chứng luận trị chủ yếu theo 3 giai đoạn lâm sàng:
a- Giai đoạn cấp tính:
Thường trong thời gian 1-2 tuần đầu của bệnh mà triệu chứng chủ yếu là hôn mê. Thời gian hôn mê càng dài, càng sâu thì tiên lượng bệnh càng kém. Do thể chất người bệnh, tình hình bệnh lý khác nhau mà biểu hiện lâm sàng khác nhau, có thể chia làm 2 thể bệnh: chứng bế và chứng thoát.
@ Chứng bế:
- Triệu chứng chủ yếu: hôn mê, liệt nửa người, méo mồm, mắt trợn ngược, mặt đỏ, người nóng sốt, hàm răng nghiến chặt, đờm nước rãi nhiều, họng khò khè, thở thô, mũi ngáy, tay chân co cứng, tiêu tiểu không thông, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch huyền hoạt sác, gọi là chứng “dương bế” thường gặp trong giai đoạn cấp.
- Phép chữa: Khai bế tỉnh não, hoạt huyết chỉ huyết.
- Huyệt châm: Chích nặn máu các huyệt: Trung xung, Bách hội, Tứ thần thông (hoặc dùng 12 huyệt tĩnh) kết hợp chích Nhân trung, Thừa tương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc, Lao cung, Thái xung, Dũng tuyền. Hoặc dùng Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao, Hợp cốc, Ủy trung. Chủ yếu dùng phép tả, ngày 1 đến 2 lần, không lưu kim cho đến khi tỉnh và tùy tình hình bệnh thay đổi chọn huyệt.
- Thuốc thường dùng “An cung ngưu hoàng hoàn” “Chí bảo đơn” hoặc “Tứ tuyết đơn” (1-2 g x 2-4 lần/ngày). “An cung ngưu hoàng hoàn” và “Chí bảo đơn” mỗi lần uống 2 - 4 g, ngày 2 - 4 lần, tán nhỏ, hòa nước sôi, uống hoặc bơm bằng sonde.
+ Hoạt huyết chỉ huyết dùng bài “Tê giác địa hoàng thang” (bột sừng trâu 20g, Sinh địa 16-20 g, Xích thược 12-16 g, Đơn bì 12-16 g).
+ Đối với chứng dương bế (nhiệt bế) có thể dùng bài thuốc sau có tác dụng thanh nhiệt giải độc, bình can tức phong, an thần hoạt huyết:
Sinh địa 10-15g, Chi tử 10g, Hoàng cầm 10g, Toàn qua lâu 15-20g, Mang tiêu 10g, Bột sừng trâu 15-25g, Thạch quyết minh 15g, Câu đằng 15g, Xích thược 15g, Đơn sâm 15g, Tam thất bột 6g, Chích thảo 3g, Trúc lịch (nước) 30ml. Ngày sắc uống thang, tùy chứng gia giảm.
+ Đối với chứng âm bế (thường gặp ở bệnh nhân vốn dương hư đàm thịnh hàn đàm làm bế tắc thanh khiếu) dùng phép chữa: Ôn thông khai khiếu.
Bài thuốc: “Tô hợp hương hoàn” mỗi lần uống 2-4 g, 1-2 lần uống với nước Tế tân 3g, Gừng tươi 3-5 lát.
+ Trường hợp triệu chứng dương hư nặng (sắc mặt tái nhợt, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, mạch vị hoặc phù tế mà huyền) gia Phụ tử, Hoàng kỳ, gia thêm Xuyên khung, Tô mộc, Đương quy, Bạch cương tàm, Ngưu tất, Tế tân để hoạt huyết thông lạc. Trường hợp hôn mê cấm khẩu, đờm thịnh, chính khí dục thoát cần dùng bài “Tam sinh ẩm” (Sinh nam tinh, Sinh bán hạ, Sinh phụ tử mỗi thứ 10g) gia Nhân âm 15-30g, sắc uống cấp, chống hư thoát. Lúc này châm thêm Nhân trung, Hợp cốc, Túc tam lý, Dũng tuyền để hồi dương cứu nghịch.
@ Chứng thoát:
- Triệu chứng chủ yếu: Đột nhiên ngã quỵ hoặc do chứng bế chuyển thành, có triệu chứng hôn mê bất tỉnh, sắc mặt tái nhợt, mắt nhắm, mồm há, hơi thở ngắn gấp hoặc có lúc ngưng thở, tay buông thõng, tứ chi lạnh, toàn thân ướt lạnh, tiêu tiểu không tự chủ, chân tay liệt mềm, lưỡi rút ngắn, mạch vi dục tuyệt hoặc hư đại vô căn, huyết áp hạ. Thường chứng thoát là âm dương, khí huyết đều hư hoặc do bệnh nhân nguyên khí vốn rất hư đột quỵ là xuất hiện chứng thoát, hoặc là diễn tiến xấu đi của chứng bế, cho nên trong quá trình cấp cứu chứng bế nếu phát hiện 1, 2 triệu chứng của chứng thoát, cần chuyển hướng chữa cấp cứu kịp thời mới hy vọng cứu sống bệnh nhân.
- Phép chữa chủ yếu: Hồi dương cứu thoát.
- Bài thuốc cơ bản: “Sâm phụ thang” (Nhân sâm, Phụ tử mỗi thứ 15-30 g)
Trường hợp ra mồ hôi không dứt gia Long cốt, Mẫu lệ mỗi thứ 30-60 g.
Âm dương đều thoát, dùng “Sinh mạch âm hợp sâm phụ thang” gia Sơn thù, Bạch thược, Long cốt, Mẫu lệ. Đây là trường hợp cấp cứu trụy tim mạch, không thể dùng thuốc uống được mà phải tiêm truyền bằng đường tĩnh mạch. Ở Trung quốc dùng thuốc chích Sâm mạch (Nhân sâm, Mạch môn) mỗi lần 4-10 ml gia vào dung dịch Glucose 5% 20 ml chích tĩnh mạch 2-3 lần, sau đó tiếp tục dùng dịch Sâm mạch 10-20 ml cho vào dung dịch Glucose 10% 250-500 ml nhỏ giọt tĩnh mạch cho đến khi trạng thái choáng được cải thiện, huyết áp ổn định. Và sau đó tiếp tục dung dịch Sâm phụ mỗi lần 40-100 ml gia vào 10% Glucose 250-500 ml nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 2 lần tùy tình hình bệnh mà duy trì dùng trong 7-10 ngày. Ta chưa có thuốc tiêm Sâm mạch nên phải cấp cứu chứng thoát theo phương pháp y học hiện đại.
- Kết hợp châm cứu: Chủ yếu cứu các huyệt Khí hải, Quan nguyên, Thần khuyết, Dũng tuyền.
b- Giai đoạn hồi phục:
Sau thời gian cấp tính khoảng 1-2 tuần và kinh qua điều trị tích cực chứng bế hoặc chứng thoát, bệnh nhân qua cơn nguy kịch chuyển sang giai đoạn hồi phục. Bệnh lý chủ yếu ở giai đoạn này là chứng hư kiêm huyết ứ đàm trệ ở kinh lạc mà phần lớn là thể khí hư huyết ứ.
- Triệu chứng chủ yếu: Tinh thần mệt mỏi, sắc mặt vàng xạm, liệt nửa người, chất lưỡi xám nhợt hoặc có điểm ứ huyết, mạch tế nhược hoặc tế sáp hoặc hư đại, huyết áp thường không cao hoặc không cao.
- Phép chữa: Bổ khí hóa ứ, thông lạc.
- Bài thuốc: “Bổ dương hoàn ngũ thang”
Sinh Hoàng kỳ 30-60g, Xích thược 8-12g, Đương quy 12g, Xuyên khung 8g, Đào nhân 8g, Hồng hoa 8g, Địa long 6-8g. Sắc uống.
- Gia giảm:
+ Thận hư gia Can địa hoàng, Sơn thù, Nhục thung dung, Ngưu tất, Tang ký sinh, Đỗ trọng.
+ Huyết áp cao gia Thanh mộc hương, Thảo quyết minh, Phòng kỷ.
+ Chân tay hồi phục chậm gia Đơn sâm, Xuyên giáp hoạt huyết, Quất hồng, Thanh bì hóa đàm thông lạc.
- Một số bài thuốc khác như:
1/ Dịch thông mạch sơ lạc gồm: Hoàng kỳ, Xích thược, Xuyên khung, Đơn sâm dùng truyền tĩnh mạch.
2/ Cố bản phục nguyên thang gồm: Hoàng kỳ, Đơn sâm, Kê huyết đằng, Hoàng tinh, Hải tảo, Huyền sâm, thích hợp với thể âm hư. Ngoài ra bệnh viện Bắc kinh có chế bài thuốc uống gồm có độc vị Thủy điệt (con đỉa) dùng có kết quả.
* Đối với thể âm hư dương thịnh (liệt nửa người, sắc mặt đỏ, đau đầu chóng mặt, bứt rứt, chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền sác …) có thể dùng bài “Kỷ cúc địa hoàng hoàn” gia Thạch quyết minh, Câu đằng, Đơn sâm, Xích thược để tư âm tiềm dương, hoạt huyết thông lạc.
c- Giai đoạn di chứng:
Thường sau 6 tháng, sự hồi phục chức năng cơ thể người bệnh tuy vẫn tiếp tục nhưng chậm lại và thường để lại ít nhiều di chứng, có di chứng khó hồi phục trở lại bình thường.
Bệnh lý ở giai đoạn này cơ bản là giống giai đoạn hồi phục chủ yếu là hư chứng (tùy từng bệnh nhân mà biểu hiện thiên về khí hư, huyết hư, âm hư hoặc dương hư) kiêm khí huyết ứ trệ hoặc đàm thấp trở lại, nên phép chữa vẫn cần chú ý bổ ích khí huyết, tư âm tiềm dương, hành khí hóa ứ, sơ thông kinh lạc.
Đối với giai đoạn này cũng như giai đoạn hồi phục, ngoài việc dùng thuốc ra, kết hợp các phương pháp luyện tập dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu là rất quan trọng có vai trò quyết định sự hồi phục các chức năng vận động, lao động trí óc và chân tay. Ba mặt điều trị tối quan trọng đối với người bệnh trong giai đoạn hồi phục và di chứng là: tự tạo cho mình một tinh thần, tự xây dựng cho mình một chế độ sinh hoạt điều độ, ăn uống thanh đạm, làm việc vừa sức, không ham dục vọng kết hợp với sự luyện tập nhẹ nhàng thường xuyên đều đặn là những vấn đề thiết yếu (có thể gọi là “tam pháp bảo”) để bảo vệ sức khỏe, làm tăng sức khỏe và chống tái phát đối với bệnh nhân.
B- NHŨN NÃO:
Nhũn não là một trạng thái bệnh lý do sự hình thành huyết khối ở não làm tắc động mạch não → tổ chức não thiếu máu nuôi dưỡng mà sinh ra nhũn não. Sự hình thành huyết khối trong động mạch não là do động mạch não vốn bị xơ cứng, lòng mạch hẹp, máu chảy chậm lại, huyết khối hình thành và làm tắc nghẽn động mạch nuôi dưỡng não. Triệu chứng chủ yếu là liệt nửa người.
1- Triệu chứng lâm sàng:
Người bệnh phần lớn trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Phát bệnh bất kỳ lúc nào, có khi đang nghỉ ngơi, đang lao động, có nhiều người ngủ dậy phát hiện liệt nửa người. Thường lúc phát bệnh, tinh thần tỉnh táo, huyết áp bình thường hoặc hơi cao, đối với một số người bệnh khởi phát từ từ, trước đó có triệu chứng đau đầu chóng mặt, trí nhớ giảm sút, chân tay tê hoặc yếu, nói hơi khó … sau 1-2 ngày mới thấy liệt nửa người. Do bệnh lý ở bộ phận mạch máu não khác nhau mà triệu chứng lâm sảng cũng khác nhau. Bệnh nặng và thường đến từ từ, có thể ý thức vẫn tỉnh táo. Chứng nhũn não cũng thường có tiền sử xơ cứng động mạch hoặc huyết áp cao.
2- Tiêu chuẩn chẩn đoán:
a/ Người trên 50 tuổi có tiền sử bệnh xơ cứng động mạch hoặc huyết áp cao, liệt nửa người, nói khó hoặc không nói được xuất hiện từ từ.
b/ Nước não tủy bình thường.
c/ Nếu có điều kiện chụp mạch máu não, làm điện não đồ và kiểm tra CT não giúp xác định chẩn đoán.
3- Phân tích cơ chế bệnh theo y học cổ truyền:
Người lớn tuổi thường nguyên khí suy giảm, huyết hành là nhờ có lực của khí cho nên khí hư → lực đẩy kém → huyết dễ ứ trệ → huyết ứ → tắc mạch. Mặt khác, do can thận âm hư, can dương thịnh sẽ sinh đàm sinh phong, can phong động gây co mạch, thuận lợi cho huyết khối làm tắc nghẽn khiến huyết mạch không lưu thông. Hoặc người bệnh vốn béo mập đàm thịnh dẫn đến ứ kết cũng làm mạch lạc không thông. Bệnh cơ chính là do khí hư, huyết khối hình thành làm tắc nghẽn mạch, huyết mạch không thông sinh bệnh.
4- Biện chứng luận trị:
Trên lâm sàng thường gặp 2 thể bệnh:
a/ Khí hư huyết ứ: là thể bệnh thường hay gặp.
- Triệu chứng chủ yếu: phần lớn bệnh nhân thể chất khí hư, sắc mặt tái nhợt, hơi ngắn, dễ mệt, ra nhiều mồ hôi, tiêu phân lỏng, chất lưỡi nhợt, rìa lưỡi có dấu răng, trên mặt hoặc dưới lưỡi có điểm hoặc nốt ứ huyết, một bộ phận chân tay tê dại, liệt nửa người hoàn toàn hoặc yếu, mồm méo, nói khó hoặc không nói được, mạch vi tế hoặc hư đại, tinh thần tỉnh táo.
- Phép chữa: Bổ khí, hóa ứ, thông lạc.
- Bài thuốc:
(1) “Bổ dương hoàn ngũ thang”
(2) Có thể dùng bài “Thông lạc hóa ứ” gồm bột Sâm Tam thất, Thủy điệt, Ngô công trộn đều theo tỷ lệ 2:2:1, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần để tăng cường hóa ứ thông lạc.
- Gia giảm:
+ Trong trường hợp bệnh nhân béo mập gia thuốc hóa đàm như Bào Nam tinh, sao Bạch giới tử, Trúc lịch, nước gừng tươi.
+ Trường hợp có nhiệt chứng như váng đầu, hoa mắt, mặt đỏ, bứt rứt khó chịu, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền sác gia Hoàng cầm, Hạ khô thảo, Câu đằng, Thạch quyết minh, Thảo quyết minh, Bạch thược, Cúc hoa, Hắc Chi tử để thanh nhiệt bình can.
b/ Can thận âm hư:
- Triệu chứng chủ yếu: Bệnh nhân da khô nóng, thường hay hoa mắt váng đầu, tim hồi hộp, mất ngủ, bứt rứt, lưng đau gối mỏi, tiêu bón, bàn chân tay tê dại, thân lưỡi thon, rìa lưỡi đỏ, rêu dày nhớt, liệt nửa người, mồm méo, tiếng nói không rõ, mạch huyền tế sác hoặc huyền hoạt. Huyết áp cao hoặc bình thường.
- Phép trị: Tư âm tức phong, hóa đờm tán ứ, thông kinh hoạt lạc.
- Bài thuốc: “Mạch vị địa hoàng hoàn hợp Thiên ma câu đằng ẩm gia giảm”
Mạch môn 12g, Ngũ vị 4-6g, Thiên ma 8-12g, Câu đằng 12g, Ngưu tất 12g, Ích mẫu thảo 12g, Tang ký sinh 12-16g, Đơn sâm 12g, Hồng hoa 8-12g, Thạch xương bồ 12g, Viễn chí 6g. Sắc uống.
Nói chung TBMMN thường có 2 thể bệnh: xuất huyết não và nhũn não có nguyên nhân và cơ chế bệnh khác nhau, triệu chứng lâm sàng có những đặc điểm riêng. Xuất huyết não thường khởi phát đột ngột, phần lớn hôn mê, bệnh cảnh lâm sàng nặng dễ dẫn đến tử vong (hôn mê càng sâu, càng kéo dài thì tử vong càng cao). Nhũn não thường phát bệnh từ từ hơn, có những tiền triệu chứng, ít có hôn mê, tinh thần phần lớn là tỉnh táo, chỉ có liệt nửa người, rối loạn ngôn ngữ, bệnh cảnh lâm sàng nhẹ hơn, dễ hồi phục hơn, nhưng cũng có những trường hợp nhất là những trường hợp huyết khối từ các nơi khác di chuyển đến não làm tắc nghẽn mạch não thì phát bệnh cũng đột ngột và cũng có những trường hợp hôn mê nặng, cần lưu ý lúc chẩn đoán.
c/ Kết hợp điều trị bằng phương pháp YHHĐ:
Chủ yếu ở giai đoạn bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân cần được:
- Bảo đảm thông khí đường hô hấp: hút đờm giải, thở oxy.
- Bảo đảm đủ chất dinh dưỡng: mỗi ngày ít nhất 1.500 calo. Truyền dung dịch ngọt ưu trương xen kẽ với dung dịch ngọt và dung dịch mặn đẳng trương.
- Theo dõi và xử trí kịp thời các biến chứng tim mạch như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim …
- Chống loét (cần thay đổi tư thế) và chống nhiễm khuẩn (dùng kháng sinh)
- Chống phù não: Lasix (Furosemide) 20 mg x 1 ống TM, dun dịch ngọt ưu trương 30% 40-100 ml, Glycérol MgSO4.
- Cân bằng nước, điện giải … ổn định huyết áp. Đối với bệnh nhân không hôn mê, huyết áp ổn định, thực hiện điều trị phục hồi càng sớm càng tốt.
5- Giới thiệu một số bài thuốc kinh nghiệm điều trị TBMMN:
(1) Địa long đơn sâm thang
- Công thức: Địa long 20g, Đơn sâm 30g, Xích thược 15g, Hồng hoa 15g, Một dược 10g. Sắc nước uống.
- Tác dụng: Hoạt huyết tức phong thông lạc. Chủ trị chứng trúng phong.
- Gia giảm:
+ Âm hư dương thịnh gia Quy bản 20g, Đơn bì, Mạch môn, Huyền sâm đều 15g.
+ Đàm thấp thịnh gia Bán hạ 15g, Trần bì, Phục linh đều 20g.
(2) Trúng phong tinh thần hợp tế
- Công thức:
1- Uất kim, Xương bồ đều 5g theo tỷ lệ 1:1 chưng lấy nước cất, đóng ống 10 ml.
2- Câu đằng, Tang ký sinh đều 20g, Hoàng cầm, Địa long đều 10g, tán bột mịn đóng gói 15g.
3- Bột sừng trâu 1,5g, Ngưu hoàng nhân tạo 1,3g tán bột thật mịn.
- Cách chế và dùng: Trước hết sắc (2) 15 phút sau cho (1) và (3) vào trộn đều uống, nếu nuốt khó cho vào đường mũi, mỗi ngày 3 lần: sáng, trưa và tối.
- Tác dụng: Bình can tức phong, thanh tâm khai khiếu. Chủ trị TBMMN cấp.
- Gia giảm:
+ Trường hợp sốt cao: uống Cam lộ thối nhiệt tán (Kim ngân hoa, sinh Thạch cao, Hạ khô thảo đều 20g, Chi tử 5g, tán bột mịn, đóng gói 15g/gói) bỏ vào sắc cùng với (2).
+ Đàm nhiều gia bài thuốc trừ đàm (Đờm tinh 6g, Viễn chí 10g, Quất hồng 10g, tán bột thô) sắc cùng (2).
(3) Tư thọ giải ngũ thang
- Công thức: Phòng phong 9g, Phụ phiến 6g, Thiên ma 6g, Toan táo nhân 9g, Linh dương giác 4,5g, Quế tâm 3g, Cam thảo 3g, Xuyên khung 9g, Huyền sâm 9g, Xương bồ 6g. Cho 400 ml nước sắc còn 200 ml.
Gia thêm Trúc lịch 1ml, nước gừng 1 ml trộn đều chia 2 lần, mỗi cách 1 giờ uống 1 lần.
(4) Linh liên thang
- Công thức: Hoàng cầm, Bán hạ, Chế nam tinh, Trúc nhự, Địa long đều 10g. Hoàng liên, Xuyên bối mẫu, Quất bì đều 9g. Phục linh, Chỉ thực, Ngưu tất đều 12g. Sắc uống.
- Tác dụng: Táo thấp hóa đờm, thanh nhiệt trừ phiền, điều hòa can đởm. Chủ trị chứng trúng phong.
- Gia giảm:
+ Chân tay đau tê dại, chất lưỡi đỏ thẫm hoặc có ban ứ huyết, bỏ Xuyên bối, Ngưu tất, Quất bì, gia Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa.
+ Âm hư rõ gia Bạch thược, Sinh địa, Thạch hộc, Ngọc trúc, Huyền sâm.
+ Táo bón gia Qua lâu, Ma nhân
+ Ngủ kém gia Táo nhân, Viễn chí, Dạ giao đằng.
(5) Thông mạch sơ lạc phương
- Công thức:
1- Hoàng kỳ, Đơn sâm, Xuyên khung, Xích thược chế thành dịch tiêm, truyền tĩnh mạch mỗi ngày 250 ml, 1 liệu trình 10 ngày, nghỉ 4 ngày, tiếp tục liệu trình 2.
2- Hoàng kỳ 30g, Xuyên khung 10g, Địa long 15g, Ngưu tất 15g, Đơn sâm 30g, Quế chi 6g, Sơn tra 30g sắc nước uống.
- Tác dụng: Ích khí hoạt huyết thông lạc. Chủ trị nhũn não do huyết khối.
- Gia giảm:
+ Có rối loạn ngôn ngữ và ý thức thuộc khí uất đàm thấp: bài (1) gia Uất kim, Xương bồ, Đơn sâm chế thuốc chích, mỗi lần chích 4ml, ngày 2 lần.
+ Nói và nuốt khó: bỏ Quế chi gia Đởm nam tinh 10g, Uất kim 10g.
+ Đau đầu nhiều: bỏ Quế chi gia Cương tàm, Cúc hoa 15g
+ Chóng mặt mà cơ thể mập, bỏ Quế chi giảm lượng 10g Hoàng kỳ, gia Bạch truật, Trạch tả đều 10g, Phục linh 15g.
+ Can dương thịnh: bỏ Quế chi, Xuyên khung, Hoàng kỳ gia Trân châu mẫu 30g, Sung úy tử 10g.
+ Ăn kém, rêu lưỡi trắng dày, bỏ Quế chi gia Bạch truật, Phục linh đều 10g, Ý dĩ 20g hoặc Hoắc hương 10g, Bội lan 10g.
+ Nôn: gia Trúc nhự 10g, Khương bán hạ 10g.
+ Co giật: bỏ Quế chi gia Bạch cương tàm 10g, Câu đằng 10g.
+ Táo bón, mồm hôi gia Đại hoàng 12g (cho sau).
(6) Đào hồng thông mạch phương
- Công thức: Đào nhân, Hồng hoa, Xuyên khung, Xuyên sơn giáp, Quế chi, Địa long, Bạch thược đều 10g, Sinh hoàng kỳ, Đơn sâm đều 15g, chế thành thuốc bột, hòa uống, lượng trên thành 1 gói, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần ¼ gói.
Trường hợp nặng và bệnh lâu ngày, mỗi ngày 1 gói, chia 2-3 lần, uống.
- Tác dụng: Hoạt huyết thông mạch.
- Chủ trị: nhũn não giai đoạn hồi phục và di chứng.


(Đông y điều trị bệnh tim mạch. GS.BS. Trần Văn Kỳ)